Vấn đề nước xuyên biên giới của Đồng bằng sông Cửu Long
- 1 ngày trước
- 5 phút đọc
Sông Mê Kông là mạch sống của các quốc gia trong khu vực Mê Kông, nhưng vài năm gần đây dòng chảy liên tục suy giảm và quá trình xâm nhập mặn đang tăng tốc tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam. Những thách thức thủy văn xuyên biên giới này gây ra tác động nghiêm trọng đối với hàng triệu người dân đang sinh sống ở vùng đồng bằng, mà sinh kế của họ phụ thuộc vào dòng Mê Kông.
Một bản chính sách của TS. Trần Anh Thông, Nghiên cứu viên Cao cấp tại HAPRI.

Biến đổi khí hậu đã đóng vai trò qua các tác động như lượng mưa giảm, nhiệt độ tăng và các hiện tượng thời tiết cực đoan. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng những biến đổi này không thể chỉ quy cho biến đổi khí hậu — và một phần quan trọng của lời giải nằm ở việc vận hành các đập thủy điện quy mô lớn ở khu vực thượng nguồn sông.
Với vai trò chi phối ở vùng đồng bằng, một số ý kiến cho rằng Trung Quốc giữ lại một lượng đáng kể nước vì lợi ích phát triển của riêng mình, kéo theo hệ lụy và chi phí cho người sử dụng ở hạ nguồn. Hiệp định Mê Kông 1995 cho phép Trung Quốc thẩm quyền và cơ chế pháp lý để giữ lại nước cho 'việc sử dụng hợp lý và công bằng' của mình, dù định nghĩa này tinh tế và phức tạp, như Ủy hội sông Mê Kông đã chỉ ra. Các nước hạ nguồn, đặc biệt là Lào, cũng góp phần vào vấn đề khi tiếp tục xây dựng hàng loạt đập, cả ở các nhánh sông và dòng chính.
Tranh luận về vai trò trung gian của các đập Trung Quốc trong việc điều tiết dòng chảy hạ nguồn vẫn tiếp diễn. Nhiều ý kiến nghi ngờ vai trò của Ủy hội sông Mê Kông trong việc giám sát chế độ thủy văn dọc theo toàn bộ chiều dài địa lý của sông Mê Kông, bên cạnh chức năng trung tâm tri thức mà ủy hội đang hoạt động hiệu quả, phục vụ các nước Mê Kông.

Sự phân mảnh của sông Mê Kông do việc xây dựng các đập thủy điện quy mô lớn cho thấy khó khăn của các nước hạ nguồn trong việc định hình khái niệm 'sử dụng hợp lý và công bằng' theo hướng phục vụ mục tiêu khu vực thay vì xoay quanh lợi ích quốc gia.
Tuy vậy, đã có một số thành công. Đáng chú ý nhất là việc tạm dừng hai dự án thủy điện dòng chính Sambor và Stung Treng của Chính phủ Campuchia là tín hiệu tích cực cho thấy các nước hạ nguồn đang nhận thức và phản ứng trước những hệ lụy xuyên biên giới tiêu cực. Tuy nhiên, quyết định này có thể chỉ mang tính ngắn hạn vì đây là cam kết quốc gia với giới hạn pháp lý hẹp. Sự phức tạp của các hệ lụy nước xuyên biên giới không thể được giải quyết một cách hiệu quả thông qua các hành động quốc gia rời rạc.
Có những lo ngại về khả năng Việt Nam giải quyết tính phức tạp của các thách thức nước xuyên biên giới mà cộng đồng nông nghiệp ở đồng bằng đang đối mặt. Các đập thủy điện ở Tây Nguyên Việt Nam gây tác động tàn phá lên khu vực hạ lưu. Điều này đặt Việt Nam vào vị thế khó xử khi xem xét sự tham gia của các công ty Việt Nam trong việc xây dựng đập thủy điện dòng chính Luang Prabang và các đập khác ở Lào. Dù lý do đằng sau khoản đầu tư vào dự án Luang Prabang là gì, việc hưởng lợi từ những phát triển thượng nguồn theo cách này làm suy yếu bất kỳ lập luận nào mà Việt Nam có thể đưa ra về hệ lụy tiêu cực ở hạ nguồn đồng bằng.
Có nhiều bất định về những thay đổi dài hạn đối với chế độ thủy văn của Mê Kông. Nhưng dòng di cư ra ngoài đáng kể từ đồng bằng đã và đang diễn ra, khi người nghèo nông thôn rời đồng bằng tìm việc làm ở khu vực đô thị. Tuy nhiên, cách các chính phủ quốc gia sẽ phản ứng trước tác động của biến đổi khí hậu vẫn chưa rõ ràng. Liệu Campuchia, chẳng hạn, có quyết định kích hoạt lại kế hoạch xây đập? Nếu vậy, những quá trình đang diễn ra ở đồng bằng sẽ tăng tốc, với những hệ lụy đáng kể đối với dân cư vùng đồng bằng.
Các biến đổi thủy văn xuyên biên giới đem đến những rủi ro chưa từng có cho đồng bằng. Ở quy mô địa phương, các biện pháp kiểm soát và thích ứng đã được triển khai để đối phó với những tác động ngoại biên. Nhưng những nỗ lực địa phương này là chưa đủ làm giải pháp dài hạn cho các thách thức đang nổi lên. Thay vào đó, vấn đề đòi hỏi quyết tâm mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam để thúc đẩy một chương trình nghị sự thiết lập nền tảng đối thoại trên toàn Mê Kông, nhằm chẩn đoán và giải quyết các thách thức trong quản lý nguồn nước xuyên biên giới. Đồng thời, cần tạo điều kiện cho sự hợp tác có ý nghĩa hướng tới cải thiện điều kiện thủy văn của Mê Kông, với lợi ích được chia sẻ giữa các nước thượng nguồn và hạ nguồn.
Ở quy mô khu vực, đã đến lúc các nước ven sông Mê Kông và Ủy hội sông Mê Kông cần nhìn xa hơn các thực hành thông thường. Thay vì chỉ dựa vào các dự án thủy điện đã gây ra những hệ lụy xuyên biên giới nghiêm trọng, các giải pháp năng lượng thay thế phải được đẩy mạnh. Có tiềm năng lớn để đầu tư vào các dự án điện mặt trời và điện gió, đặc biệt ở vùng ven biển Việt Nam. Nhưng trong khi các lộ trình phát triển năng lượng này còn đang tiến triển, cuộc sống của hàng triệu cư dân Mê Kông vẫn treo trên sự bất định, được đặc trưng bởi thiện chí thất thường của các nước thượng nguồn cũng như ý chí chính trị mạnh mẽ của họ nhằm ngày càng siết chặt dòng chảy Mê Kông.



