Việt Nam đã học từ sai lầm corona-virus của Trung Quốc như thế nào
- 1 ngày trước
- 7 phút đọc
Bởi Lê Vĩnh Triển và Nguyễn Quỳnh Huy - 17/3/2020 cho The Diplomat
Hà Nội, một quốc gia cộng sản anh em, nhanh chóng nhận ra rằng sự che giấu theo kiểu Trung Quốc chỉ làm mọi việc tệ hơn.
Trên khắp thế giới, các quốc gia đang nỗ lực kiềm chế tác động về con người của cuộc khủng hoảng y tế chưa từng có do đại dịch COVID-19 gây ra. Đây không chỉ là một cuộc chơi con số — cách cộng đồng tự tổ chức để làm phẳng đường cong từ dưới lên — mà còn là một phép tính đa yếu tố về cách chính phủ tổ chức từ trên xuống. Rất khó đánh giá liệu chế độ độc tài hay dân chủ sẽ làm tốt hơn vì có nhiều yếu tố quyết định thành công hay thất bại ngoài hệ thống thể chế. Dù vậy, bài viết này thảo luận một số khía cạnh ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát sự lan tràn của corona-virus của một quốc gia, nhằm suy ngẫm về những hàm ý hiện nay và cải cách trong tương lai.
Trung Quốc: Kiểu kiểm soát dịch bệnh chuyên chế
Thế giới đã chứng kiến hậu quả của một chế độ chuyên chế gây ra đợt bùng phát tại Vũ Hán, Trung Quốc. Với việc thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình từ đầu hạn chế nhận thức của công chúng về corona-virus mới, các quan chức từ địa phương lên trung ương rõ ràng đang hành động vì động cơ chính trị. Đặc điểm thể chế của Trung Quốc khiến quan chức không sẵn lòng lắng nghe những tiếng nói trung thực, ngay thẳng từ ngay khi dịch được phát hiện lần đầu và còn có thể kiểm soát. Đến khi dịch bệnh trở nên rõ ràng, đã quá muộn để khắc phục thiệt hại, không chỉ ảnh hưởng đến Vũ Hán và tỉnh Hồ Bắc mà cả Trung Quốc và giờ là toàn thế giới.
Việc Trung Quốc sử dụng bàn tay sắt trong việc kiểm soát thông tin và tài nguyên theo nguyên tắc "mục đích biện minh cho phương tiện", bất chấp mọi tiêu chuẩn nhân quyền trong điều trị bệnh. Đây là kết quả tất yếu của một chế độ toàn trị. Bị dồn vào chân tường từ cả hai phía, người dân Trung Quốc bị buộc phải im lặng và không thể đối phó với những nguy cơ đang gia tăng. Dưới vỏ bọc ổn định chính trị bằng mọi giá, thống kê dịch bệnh bị thao túng để phục vụ mục tiêu chính trị, dẫn đến việc thiếu minh bạch đã được thể chế hóa thành vị trí mặc định của các quan chức chính phủ. Mặc dù đối mặt với những thách thức này, việc kiểm soát chặt chẽ thông tin cũng có thể, một cách trờ trêu, được sử dụng như một công cụ có sức mạnh vừa có thể chặn đứng đợt bùng phát vừa ngăn chặn mạng xã hội.
Nhìn quá trình xử lý vấn đề ở phần còn lại của thế giới, những người quan sát bề mặt có thể ngưỡng mộ bàn tay sắt của chế độ độc tài Trung Quốc và ca ngợi hiệu quả của nó — quên rằng chính chế độ độc tài này đã che giấu vi-rút và làm trầm trọng thêm đợt bùng phát, đã lấy đi sinh mạng của rất nhiều người.
Với các quốc gia dân chủ, giàu có đang trong khủng hoảng — như Nhật Bản, Hàn Quốc và Ý — phản ứng của Trung Quốc có thể được củng cố thêm như một ưu thế, với sự nghiêm khắc của chế độ độc tài vượt trội so với những biện pháp phân tán hơn. Người dân ở các quốc gia dân chủ chậm cách ly và duy trì quyền riêng tư và ít hạn chế di chuyển. Một cách trờ trêu, việc thiếu cảnh giác và quá tự tin vào các hệ thống phòng bệnh có thể đang thúc đẩy những đợt bùng phát có thể ngăn ngừa ở các quốc gia có quyền tự do chọn phản ứng.
Vậy, chế độ dân chủ hay độc tài nào trang bị tốt hơn cho phòng và kiểm soát dịch bệnh? Hay câu hỏi về dân chủ hay độc tài có ý nghĩa gì khi có nhiều yếu tố đặc thù đang đóng vai trò?
Trường hợp của Việt Nam có thể minh họa một mô hình chính trị thay thế thách thức cách phân đôi thông thường này.
Việt Nam: Kết hợp nguyên tắc dân chủ và thực hành chuyên chế
Là một quốc gia có thể chế chính trị khá tương đồng với Trung Quốc, Việt Nam từ lâu đã được xem là cởi mở hơn Trung Quốc nhiều về kiểm duyệt truyền thông và kiểm soát thông tin. Người dân Việt Nam, chẳng hạn, có thể sử dụng hầu hết các mạng xã hội của thế giới. Facebook đặc biệt được sử dụng rộng rãi và phục vụ như một nền tảng khổng lồ cho người dân chia sẻ thông tin cũng như thể hiện sự chỉ trích, trực tiếp hay gián tiếp, đối với các chính sách của chính phủ. Trong khi truyền thông Trung Quốc chậm tiết lộ những điểm yếu và thông tin về bệnh phổi bí ẩn ở Vũ Hán, những nghi ngờ về các con số dịch bệnh từ Trung Quốc trong giai đoạn đầu đã được phơi bày cho cộng đồng internet Việt Nam, tạo ra ý thức phòng bệnh mạnh mẽ hơn. Một số học giả đã bị phê phán nghiêm khắc khi họ đề xuất rằng khẩu trang là không cần thiết và corona-virus không nguy hiểm bằng cúm mùa tại Hoa Kỳ.
Phản ứng với vi-rút đã cho chính phủ Việt Nam thấy sức mạnh của các mạng xã hội khi cộng đồng người Việt đọc và dựa vào thông tin để hình thành chiến lược. Chính phủ đã học được, từ việc quan sát dòng chảy thông tin, cách xây dựng niềm tin và củng cố tính tự lực trong các cộng đồng vốn có thể rất mong manh nếu không thế.
Chính phủ Việt Nam dường như nhận ra rằng việc chặn thông tin kiểu Trung Quốc chỉ làm tình hình tệ hơn và người dân nghi ngờ các chiến dịch tuyên truyền dịch bệnh từ trên xuống. Đổi lại, chính quyền Việt Nam duy trì minh bạch về thông tin dịch bệnh cũng như cho phép thông tin không hạn chế trên Facebook. Trong giai đoạn sớm, đã có một số quan ngại khi Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nói rằng đóng biên giới với Trung Quốc là không cần thiết, và Việt Nam sẽ duy trì quan hệ mở và liên tục với Trung Quốc. Người dân Việt Nam ban đầu bối rối rằng chính phủ có thể đặt quan hệ chính trị và kinh tế với Trung Quốc lên trên sức khỏe của người dân. Tuy nhiên, chính phủ nhanh chóng lấy lại niềm tin bằng cam kết kiểm tra và giám sát kỹ lưỡng và cuối cùng, ngay cả cấm khách từ Trung Quốc.
Việt Nam vẫn được xem là một quốc gia cộng sản, nhưng trong cuộc chiến chống dịch, chính phủ đã đặt sự tồn tại và cuộc sống của người dân lên hàng đầu và quan trọng nhất. Theo tinh thần đó, chính phủ đã minh bạch đến mức đáng chú ý, nhanh chóng giải quyết cuộc khủng hoảng tâm lý trong dân. Một mặt, là một quốc gia đơn đảng, Việt Nam dường như không bị ràng buộc bởi các quy định nghiêm ngặt về quyền riêng tư của người nhiễm bệnh, thậm chí công khai danh tính của họ. Gần đây, ngay cả danh tính và lịch trình của một nhân vật then chốt phụ trách lý luận cộng sản của đảng đã dương tính COVID-19 cũng được công bố công khai. Người dân Việt Nam cũng hợp tác hơn so với người dân ở các nước dân chủ khi bị cách ly. Những ai tỏ ra coi thường việc tự cách ly hay cách ly sẽ bị phê phán nặng nề trên mạng xã hội.
Như vậy có thể nói rằng, mặc dù Việt Nam vẫn là một quốc gia đơn đảng, chính phủ đã minh bạch hơn trong cuộc chiến chống dịch và người dân đã tạo ra hệ thống trách nhiệm giải trình của riêng mình. Mặt khác, do người dân không quen với thực hành thượng tôn pháp luật, họ sẵn lòng từ bỏ quyền riêng tư dễ dàng và hợp tác mạnh mẽ với chính quyền trong phòng chống dịch. Đến nay, chính phủ Việt Nam, hiểu rõ về nguồn lực hạn chế của mình, đã tận dụng tốt các yếu tố tích cực của tinh thần dân chủ về cởi mở và minh bạch cũng như việc thiếu kinh nghiệm về thượng tôn pháp luật để chống lại COVID-19. Chính phủ đã thể hiện sự quan tâm đến cuộc sống của người dân, đặt sức khỏe của người dân lên hàng đầu, và sẵn lòng tạm thời hạ các yếu tố tinh thần hệ tư tưởng để lấy lại niềm tin và chiến đấu chống dịch khi nó phát triển thành đại dịch toàn cầu.
Những chiến thuật này đã chứng minh được tính hiệu quả và đem lại kết quả tích cực cho Việt Nam. Bây giờ các nguyên tắc thượng tôn pháp luật như minh bạch và trách nhiệm giải trình nên được duy trì mạnh mẽ hơn trong việc giải quyết các vấn đề khác của đất nước, như tham nhũng và chủ nghĩa gia đình trị. Đồng thời, Việt Nam cần cân nhắc thể chế hóa các thực hành công bố danh tính và cách ly bắt buộc trong những điều kiện quốc gia đặc biệt như chống dịch.
Thật khó để kết luận thể chế chính trị nào có khả năng chống dịch tốt hơn, đặc biệt khi tính đến sự chênh lệch về công nghệ y tế, nguồn lực kinh tế, và điều kiện khí hậu, tất cả đều tích hợp sự chuẩn bị và lan tràn bệnh tật. Trong trường hợp của Việt Nam, các kết luận có thể rút ra là để đối phó hiệu quả với đại dịch, chính phủ ở các nước đang phát triển cần minh bạch và cởi mở để lấy được niềm tin của người dân vào thông điệp của chính phủ chống dịch và để giành được sự chấp nhận của công chúng về nhu cầu hạn chế quyền riêng tư vì lợi ích chung. Và quan trọng nhất, có lẽ các yếu tố quan trọng nhất nên là sự cởi mở và cấp thiết của chính phủ để đặt phúc lợi và bảo vệ mạng sống lên trên mọi nỗ lực chính trị.
TS. Lê Vĩnh Triển và TS. Nguyễn Quỳnh Huy hiện là giảng viên tại Khoa Quản lý Nhà nước, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Họ cũng là Nghiên cứu viên Cao cấp tại Viện Nghiên cứu Chính sách Y tế và Nông nghiệp (HAPRI)




