top of page

Tổn thương sinh kế và khả năng thích ứng của các cộng đồng ven biển trước hạn hán và xâm nhập mặn cực đoan tại Đồng bằng sông Cửu Long

  • 12 giờ trước
  • 6 phút đọc

Tổn thương sinh kế và khả năng thích ứng của các cộng đồng ven biển trước hạn hán và xâm nhập mặn cực đoan tại Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam.



Bài nghiên cứu mới của TS. Trần Đức Dũng, Nghiên cứu viên Cao cấp tại Viện Nghiên cứu Chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe (HAPRI), và TS. Võ Tất Thắng, Giám đốc HAPRI, đăng trên International Journal of Disaster Risk Reduction, Tập 57, Số 102183, tháng 4 năm 2021.


Dung Duc Tran, Man Minh Dang, Bui Du Duong, William Sea, Thang Tat Vo. "Livelihood vulnerability and adaptability of coastal communities to extreme drought and salinity intrusion in the Vietnamese Mekong Delta", International Journal of Disaster Risk Reduction, Tập 57 (2021), ISSN 2212-4209.


Từ khóa: Hạn hán; Xâm nhập mặn; Bền vững; Tổn thương; Thích ứng; Đồng bằng sông Cửu Long


Tóm tắt: Nhiều đồng bằng trên thế giới ngày càng phải đối mặt với hạn hán và xâm nhập mặn cực đoan, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh mạng và tài sản của hàng triệu cư dân ven biển. Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam được coi là một trong những vùng dễ bị tổn thương nhất trên thế giới trước hạn hán và xâm nhập mặn, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tổn thương sinh kế và khả năng thích ứng của người dân ven biển ĐBSCL dưới tác động của hạn hán và xâm nhập mặn. Một cách tiếp cận đa ngành đã được áp dụng, bao gồm tổng quan tài liệu, khảo sát thực địa, phỏng vấn và thảo luận nhóm tập trung với 120 nông dân và 30 cán bộ địa phương tại hai ấp đại diện của Sóc Trăng, một tỉnh ven biển của ĐBSCL. Một công cụ đánh giá tổn thương kết hợp với khung sinh kế bền vững đã được sử dụng để đánh giá tổn thương sinh kế thông qua năm nguồn vốn nhằm chỉ ra tác động lớn nhất của hạn hán và xâm nhập mặn đối với việc di cư của người trẻ địa phương lên các thành phố lớn để thích ứng. Chỉ số Tổn thương Sinh kế (LVI) cho thấy mức độ tổn thương cao hơn xét trên năm nguồn vốn ở các cộng đồng ven biển sinh sống tại ấp Nam Chánh so với ấp Sóc Lèo. Kết quả phỏng vấn các cán bộ cho thấy có một cơ chế tối ưu giữa các tổ chức xã hội và cộng đồng địa phương trước, trong và sau khi bị ảnh hưởng bởi hạn hán và xâm nhập mặn. Các phát hiện của chúng tôi đóng góp tri thức dựa trên bằng chứng cho các nhà ra quyết định nhằm giúp các cộng đồng ven biển tại ĐBSCL và các đồng bằng khác trên thế giới thích ứng hiệu quả với tác động của hạn hán và xâm nhập mặn.


Những điểm chính:



Trong Hình 5a, phân tích dữ liệu cho thấy 42 trong số 120 hộ được khảo sát (35%) đã di cư từ Lịch Hội Thượng đến các thành phố lớn để tìm sinh kế mới. Các hộ có một thành viên di cư chiếm 54,8% (23 hộ), hai thành viên di cư chiếm 33,3% (14 hộ), và ba thành viên di cư chiếm 4,8% (2 hộ). Với 7,1% hộ có hơn 4 thành viên di cư, 1 hộ (2,3%) có bốn thành viên di cư, và 2 hộ (4,8%) có năm thành viên di cư. Trong tổng số 42 hộ có di cư, tỷ lệ thành viên là nam giới chiếm 70%.


Hình 5b cho thấy tỷ lệ thành viên trong hộ di cư ở hai ấp. Đối với Sóc Lèo, có 17 hộ có di cư (40% tổng số hộ có thành viên di cư). Trong số này, 7 hộ có 1 người di cư và 9 hộ có 2 người di cư, lần lượt tương đương 41,2% và 52,9%. Chỉ có một hộ có 4 người di cư, chiếm 6%. Đối với Nam Chánh, có 25 hộ có di cư thành viên gia đình (60% tổng số hộ có thành viên di cư), với 16 hộ có 1 người di cư (64%), 5 hộ có 2 người di cư (20%), 2 hộ có 3 người di cư (8%) và 2 hộ có 2 thành viên di cư (8%).


Kết quả nghiên cứu cho thấy sinh kế của nông dân tại hai ấp ven biển của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) dễ bị tổn thương trước tác động của xâm nhập mặn và hạn hán giai đoạn 2015–2016. Các chỉ số LVI cho thấy ấp Nam Chánh (LVI = 0,484, LVI-IPCC = -0,027) có mức tổn thương cao hơn Sóc Lèo (LVI = 0,446, LVI-IPCC = -0,037). Tuy nhiên, các chỉ số LVI-IPCC cũng cho thấy Nam Chánh tương đối ít tổn thương hơn Sóc Lèo do năng lực thích ứng của Nam Chánh cao hơn.


Cần chú trọng hơn đến các nguồn vốn Con người, Tự nhiên và Tài chính trong việc nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu và thích ứng với xâm nhập mặn và hạn hán. Đối với nguồn vốn Con người, tỷ lệ hộ thường xuyên đến cơ sở y tế cao và mức độ chuẩn bị đào tạo để ứng phó với xâm nhập mặn và hạn hán thấp đã làm gia tăng tổn thương. Đối với nguồn vốn Tự nhiên, tỷ lệ cao các hộ sử dụng nguồn nước mưa và nước sông cho sản xuất nông nghiệp đặt ra yêu cầu chú ý nhiều hơn từ phía chính quyền địa phương để bảo vệ. Đối với nguồn vốn Tài chính, tỷ lệ cao các hộ vay tiền để sản xuất cho thấy tình trạng đáng quan ngại ở cả hai ấp. Chúng tôi cũng nhận thấy các phương án thích ứng được nông dân ở cả Nam Chánh và Sóc Lèo đánh giá rất cao.


Phân tích kết quả của năm nguồn vốn dựa trên khung DFID cho thấy mức độ tác động khác nhau của xâm nhập mặn và hạn hán dưới các góc nhìn tổn thương và thích ứng.


Cần xem xét vấn đề di cư bởi 35% số hộ được phỏng vấn cho biết các thành viên gia đình của họ đã phải chuyển đến các thành phố lớn trong và sau xâm nhập mặn và hạn hán. Chúng tôi cũng tìm thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa xâm nhập mặn và hạn hán với di cư xét trên các khía cạnh an ninh lương thực, rủi ro sức khỏe và giới.


Về bao hàm giới trong bối cảnh tác động của thiên tai, các phát hiện của chúng tôi cho thấy các hộ nghèo có thể có ít cơ hội thay đổi sinh kế hơn khi đất đai và cây trồng bị thiệt hại.


Nghiên cứu của chúng tôi đã làm rõ các vai trò và phối hợp hiện có giữa các cơ quan chính phủ và các tổ chức xã hội trong việc hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp các cộng đồng ven biển trước, trong và sau khi bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn và hạn hán.


Kết luận:

Nghiên cứu này đã đánh giá tổn thương sinh kế và khả năng thích ứng với hạn hán và xâm nhập mặn của các cộng đồng ven biển ở tỉnh Sóc Trăng thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam. Dựa trên các phát hiện nghiên cứu và thảo luận, chúng tôi kết luận:


• Cư dân ven biển, đặc biệt là nông dân ở tỉnh Sóc Trăng, bị ảnh hưởng mạnh bởi tác động của xâm nhập mặn và hạn hán. Sinh kế nông nghiệp của họ dễ bị tổn thương trước các cú sốc và áp lực do các thay đổi gây ra. Tuy nhiên, nông dân sẵn sàng đối phó và thích ứng với các thay đổi này, và có khả năng cần sự hỗ trợ từ

chính quyền địa phương cả trong ngắn hạn và dài hạn.


• Cơ chế phối hợp đã được thiết lập và vận hành tại địa bàn nghiên cứu nhằm giúp cư dân ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn. Tuy nhiên, cơ chế này cần linh hoạt và có thể được điều chỉnh để phù hợp với điều kiện sống địa phương và các thay đổi tương lai nếu cần. Vai trò của từng tổ chức trong sơ đồ phối hợp

đã được công bố, nhưng các cơ quan chức năng cần triển khai thường xuyên trong thực tế để sẵn sàng cho mọi tình huống. Chính sách ưu đãi đã được công bố nhưng cần được triển khai nghiêm túc để khuyến khích các bên liên quan trong cơ chế phối hợp.

bottom of page