Tận dụng đà chống COVID-19 thành công của Việt Nam
- 11 giờ trước
- 5 phút đọc
Bài viết của TS. Lê Vĩnh Triển, TS. Nguyễn Quỳnh Huy đăng trên The Diplomat - 19/06/2020.
Thành công của Việt Nam trong việc kiểm soát COVID-19 mang lại cơ hội biến tính chính danh đã giành được thành bàn đạp cho cải cách.
Đại dịch COVID-19 đã thách thức sự ổn định chính trị của nhiều quốc gia. Khi chính phủ ở các nước như Trung Quốc và Việt Nam nỗ lực duy trì thành quả tăng trưởng kinh tế, các câu hỏi về tính chính danh của họ nảy sinh trước những khủng hoảng chồng chất. Các chính phủ này sử dụng quyền lực tập trung để hợp thức hóa các quy tắc và quy định xã hội nhằm phục vụ một hệ thống niềm tin chung rằng việc duy trì kiểm soát tập trung không chỉ có thể giảm thiểu hỗn loạn trên thị trường mà còn bảo đảm an toàn cộng đồng trong khủng hoảng đại dịch.
Đảng Cộng sản ở mỗi nước do đó đang đặt cược lớn vào phục hồi kinh tế bằng cách dùng vốn liếng chính trị đã tích lũy trong quá trình ứng phó đại dịch để biện minh cho độc quyền duy trì trật tự xã hội. Trong khi phản ứng ban đầu của Trung Quốc trước đợt bùng phát bị chỉ trích rộng rãi vì thiếu minh bạch và gây tổn thất sinh mạng, sự cởi mở và minh bạch khác thường của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đã củng cố tính chính danh của hệ thống chính trị do ĐCSVN lãnh đạo, gắn kết với sức mạnh của niềm tin chung trong cộng đồng vào các giá trị tập thể. Vấn đề là ĐCSVN có thể tận dụng tính chính danh đã giành được ấy như thế nào để làm bàn đạp cho nền kinh tế và thúc đẩy cải cách xã hội cho sự bền vững dài hạn.
Trước đại dịch: Tăng trưởng kinh tế và tình thế lưỡng nan về tính chính danh của ĐCSVN
Tăng trưởng kinh tế ổn định kể từ công cuộc cải cách Đổi Mới cuối những năm 1980 đã tạo cho ĐCSVN tính chính danh đối nội để cầm quyền và đối ngoại để thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, thành quả không được chia sẻ đồng đều. Các câu chuyện về tham nhũng vẫn phổ biến khi quyền lực tập trung dẫn đến nhiều cơ hội cho các khoản đầu tư phục vụ lợi ích cá nhân, đi ngược lợi ích công (chưa kể đến tình trạng suy thoái môi trường nghiêm trọng). Niềm tin vào tính chính danh dài hạn của ĐCSVN lên xuống thất thường, đặc biệt khi tham nhũng, vấn đề môi trường và bất bình đẳng ngày càng trở nên nổi cộm trong nhận thức của người dân vốn đang tìm kiếm sự ổn định trước những xáo trộn thị trường và các cuộc khủng hoảng chồng chất.
Một nghịch lý khác là sự thành công kinh tế của Việt Nam phụ thuộc vào cả chính trị (về mặt tư tưởng) và đầu tư từ Trung Quốc. Điều này có thể đã khiến phản ứng của chính phủ trở nên phức tạp hơn trước cách tiếp cận ngày càng hung hăng của Trung Quốc trong các vấn đề kéo theo, như bẫy nợ, suy thoái môi trường do khai thác tài nguyên, chưa kể đến chủ nghĩa bành trướng quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông.
Những vấn đề này đặt ra một câu hỏi then chốt về việc cân bằng giữa phát triển kinh tế với các vấn đề an ninh và chủ quyền vốn gắn liền với nhiều tổn thương xã hội, môi trường và chính trị.
Sau đại dịch: Duy trì đà của cởi mở, minh bạch và trách nhiệm giải trình
Thành công của Việt Nam thông qua ĐCSVN trong việc kiểm soát đại dịch COVID-19 đã thuyết phục hầu hết các nhà đánh giá về chiến lược hiệu quả của chính phủ trong việc giảm thiểu phơi nhiễm với chỉ 328 ca nhiễm và không có ca tử vong. Nguồn tính chính danh đặc biệt mà Việt Nam có được trong khi các nước khác vẫn đang chật vật cho thấy cơ hội về một chuyển hóa chính trị cần được nắm bắt. Điều gì sẽ xảy ra nếu vị thế lãnh đạo vững chắc của Việt Nam tận dụng tính chính danh đó kết hợp với những cải cách cam kết ĐCSVN hướng tới cởi mở, minh bạch và trách nhiệm giải trình một cách rộng rãi? Sự chuyển hóa như vậy sẽ giúp Việt Nam phân biệt rõ hơn với Trung Quốc bằng cách thu hút đầu tư chất lượng cao hơn, quan hệ đối tác thương mại toàn cầu và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.
Hướng tới một xã hội tin cậy và dân chủ hơn
Để bảo đảm thành công cho cách tiếp cận nói trên, hệ thống quản trị công cần được điều chỉnh tương ứng. Cụ thể, chính phủ có thể nới lỏng các hạn chế đối với tự do biểu đạt, bao gồm tiếng nói công luận về các vấn đề liên quan đến Trung Quốc, cùng với tăng cường cơ chế kiểm tra và cân bằng trong quản trị công. Đáp lại, tính chính danh có thể được củng cố thêm bằng cách xoa dịu lo ngại và hoài nghi của người dân về cuộc chiến chống tham nhũng và bảo vệ chủ quyền, cũng như cải thiện đầu tư nước ngoài cả về chất lượng và số lượng.
Tương tự, chính phủ Việt Nam cần thúc đẩy hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự trong việc giải quyết nhiều vấn đề xã hội. Ví dụ, đại dịch COVID-19 đã cho thấy nhiều tổ chức rất sẵn lòng chia sẻ gánh nặng với chính phủ trong việc chăm lo cho các nhóm dân cư dễ tổn thương, thông qua nhiều sáng kiến trên khắp cả nước, như "ATM gạo." Khuyến khích các tổ chức xã hội dân sự huy động hoạt động vì lợi ích công cũng có thể chia sẻ trách nhiệm trong việc ngăn ngừa lạm dụng quyền lực từ các nhóm lợi ích trục lợi trong nước.
Theo đuổi chuyển hóa chính trị do đó sẽ củng cố tính chính danh mà Việt Nam đã có được trong cuộc khủng hoảng COVID-19, xây dựng và lồng ghép niềm tin xã hội vào đời sống công, và từ đó giảm chi phí duy trì bộ máy trấn áp nặng nề. Người dân sẽ được hưởng nhiều quyền hơn và thể hiện trách nhiệm và niềm tự hào trong việc xây dựng một xã hội tin cậy và dân chủ của chính họ.
TS. Lê Vĩnh Triển và TS. Nguyễn Quỳnh Huy là Nghiên cứu viên Cấp cao tại Viện Nghiên cứu Chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe - HAPRI. Họ đồng thời là giảng viên tại Khoa Quản lý Nhà nước, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.



