top of page

Published Paper

2077-1886

Journal of Economics Finance and Administrative Science

Journal of Economics Finance and Administrative Science

Hình phạt sinh con ở các nước đang phát triển: bằng chứng từ Việt Nam

Nguyen Doan, Canh Phuc Nguyen, Thanh Dinh Su, et al

DOI:
Từ khoá:

Grandparent, Developing Country, Ethnic Group, Matching (statistics), Childbirth, Census, Panel Data, Face (sociological Concept)

Nguyễn Phúc Cảnh

Cảnh Nguyễn

Tóm tắt

Mục đích Bài viết này nghiên cứu tác động của việc sinh con đối với việc làm của phụ nữ tại Việt Nam trong giai đoạn 1989-2019. Thiết kế/phương pháp/cách tiếp cận Sử dụng dữ liệu tổng điều tra dân số Việt Nam từ 1989 đến 2019, nghiên cứu xây dựng một bảng dữ liệu giả sự kiện (pseudo-event panel) bằng cách đối sánh các bậc cha mẹ ở các giai đoạn khác nhau của vòng đời làm cha mẹ với những cá nhân có đặc điểm nhân khẩu học tương đồng nhưng chưa có con. Kết quả Kết quả cho thấy việc làm của phụ nữ suy giảm mạnh và kéo dài sau khi sinh con, trong khi không có tác động tương ứng đối với nam giới. Bài viết cũng ghi nhận sự khác biệt đáng kể về mức độ của hình phạt sinh con (child penalty) giữa các vùng và theo thời gian, đồng thời phát hiện rằng phụ nữ đã kết hôn, sống ở khu vực thành thị, thuộc dân tộc đa số, có trình độ học vấn cao hơn hoặc đã di cư phải chịu hình phạt sinh con lớn hơn đáng kể. Ngược lại, phụ nữ sống cùng ông bà nội/ngoại của con hoặc làm việc trong khu vực nông nghiệp hay khu vực công dường như chịu hình phạt sinh con thấp hơn. Giá trị/tính mới Đây là một trong số ít nghiên cứu đo lường và phân tích hình phạt sinh con tại một quốc gia đang phát triển. Đặc biệt, nghiên cứu này cung cấp phân tích hệ thống đầu tiên ở cấp tỉnh về hình phạt sinh con tại Việt Nam. Hơn nữa, nghiên cứu này có hàm ý chính sách đối với một quốc gia đang phát triển trong giai đoạn chuyển đổi kinh tế, trong bối cảnh bất bình đẳng giới đang gia tăng.

Nguyen Doan, Canh Phuc Nguyen, Thanh Dinh Su, et al (2026), "Hình phạt sinh con ở các nước đang phát triển: bằng chứng từ Việt Nam", Journal of Economics Finance and Administrative Science, pp. 1-25, DOI: doi.org/10.1108/jefas-12-2025-0458

bottom of page