Tính Thuế Thu Nhập Cá Nhân
Cách tính BHXH một lần ở Việt Nam (Luật 41/2024)
Trả lời trong một dòng: BHXH một lần chi trả 1,5 tháng bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho mỗi năm bạn đóng trước 2014, cộng 2,0 tháng cho mỗi năm từ 2014 trở đi, nên 20 năm trên mức lương 12 triệu VND trả về khoảng 444 triệu VND tiền mặt. Cải cách năm 2024 (Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, hiệu lực 1/7/2025) giữ nguyên công thức đó nhưng siết chặt ai được hưởng, và những năm bạn đóng sau 1/7/2025 không còn được rút ra bằng tiền mặt nữa.
Được xây dựng bởi HAPRI, Viện Nghiên cứu Chính sách Y tế và Nông nghiệp, một viện nghiên cứu chính sách công độc lập tại Việt Nam. Căn cứ pháp lý: Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15 (Điều 70, mức hưởng và điều kiện BHXH một lần; Điều 102, các quy định chuyển tiếp), kế thừa mức 1.5x / 2.0x từ Luật 71/2014/QH13 sửa đổi Luật 58/2014/QH13 (Điều 60), với phần so sánh lương hưu lấy từ các Điều 66, 67 và 72. Công bố: 3/6/2026 · Cập nhật lần cuối: 3/6/2026 · Pháp luật được kiểm chứng lần cuối: 3/6/2026 đối chiếu với Cổng Thông tin Pháp luật Quốc gia của Bộ Tư pháp (phapluat.gov.vn).
1. Câu trả lời nhanh
Nếu bạn rời khỏi hệ thống bảo hiểm xã hội của Việt Nam trước khi đủ điều kiện hưởng lương hưu, bạn có thể nhận một khoản chi trả tiền mặt một lần thay cho lương hưu hằng tháng trong tương lai. Mức hưởng là 1,5 tháng bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho mỗi năm đóng trước 2014, cộng 2,0 tháng cho mỗi năm đóng từ 2014 trở đi, nhân với bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của bạn. Một người có 6 năm trước 2014 và 14 năm sau đó trên mức bình quân 12,000,000 VND nhận được 444,000,000 VND (37 tháng lương) một lần. Công cụ tính phía trên cũng cho thấy phương án thay thế: lương hưu hằng tháng mà chính những năm đó sẽ mở khóa khi nghỉ hưu, và năm hòa vốn mà tại đó dòng lương hưu vượt qua khoản một lần đem đầu tư. Theo cải cách năm 2024, mọi thời gian đóng sau 1/7/2025 bị khóa vào tuyến lương hưu và không thể rút ra, và lối rút thông thường “12 tháng không có việc làm” bị đóng đối với bất kỳ ai lần đầu tham gia vào hoặc sau ngày đó.
2. Cách tính BHXH một lần từng bước
Mức hưởng dùng một công thức hai mức tỉ lệ chia đôi quá trình làm việc của bạn tại năm 2014. Công cụ tính phía trên chạy đúng các bước này.
- Lấy bình quân tiền lương tháng đóng BHXH (bình quân tiền lương tháng đóng BHXH), tức bình quân của mức lương làm căn cứ đóng BHXH trong suốt quá trình làm việc của bạn.
- Đếm số năm đóng trước 2014. Mỗi năm trong số này có giá trị 1,5 tháng bình quân tiền lương đó (theo Luật 58/2014/QH13 Điều 60, kế thừa mức cũ từ Luật 71/2006/QH11).
- Đếm số năm đóng từ 2014 trở đi. Mỗi năm trong số này có giá trị 2,0 tháng bình quân tiền lương (mức do Luật 58/2014/QH13 ấn định và được Luật 41/2024/QH15 giữ nguyên).
- Cộng hai phần lại với nhau. Tổng đó, tính bằng số tháng lương, nhân với bình quân tiền lương của bạn, là khoản chi trả một lần.
Công thức:
So sánh với lương hưu. Chọn khoản một lần là từ bỏ mọi lương hưu trong tương lai, nên công cụ tính cũng mô phỏng con đường còn lại. Nếu thay vào đó bạn giữ lại số năm và hưởng lương hưu khi nghỉ hưu, lương hưu hằng tháng của bạn bằng tỉ lệ thay thế nhân với bình quân tiền lương (Mục 3). Sau đó công cụ chiếu hai dòng tiền về phía trước:
Năm hòa vốn là năm N đầu tiên mà tại đó lương hưu lũy kế bắt kịp khoản một lần đem đầu tư. Với các giả định mặc định (điều chỉnh lương hưu 8% mỗi năm, lợi suất khoản một lần 5% mỗi năm), lương hưu thường vượt qua tiền mặt trong vòng năm đến tám năm đối với người đủ điều kiện hưởng lương hưu. Cả hai thanh trượt giả định nằm bên trong biểu đồ để bạn có thể thử các con số của riêng mình; đặt cả hai về 0% để có một so sánh thuần danh nghĩa.
3. Mức, tham số và ngưỡng
Mọi giá trị bên dưới đều được tích hợp sẵn vào công cụ tính và liên kết tới văn bản gốc của cơ quan nhà nước ở Mục 8.
Hai mức tỉ lệ rút BHXH một lần
- Số năm đóng trước 2014: 1,5 tháng bình quân tiền lương · Luật 41/2024/QH15 Điều 70 (mức cũ 1.5x)
- Số năm đóng từ 2014 trở đi: 2,0 tháng bình quân tiền lương · Luật 71/2014/QH13 sửa đổi Luật 58/2014/QH13 Điều 60; được Luật 41/2024/QH15 Điều 70 giữ nguyên
Năm lẻ được tính theo tỉ lệ và bị giới hạn ở tối đa 2 tháng bình quân tiền lương mỗi năm.
Mốc cắt của cải cách
- Ngày khóa sau cải cách: 1/7/2025 · Thời gian đóng sau ngày này bị khóa vào tuyến lương hưu và không thể rút ra bằng tiền mặt · Luật 41/2024/QH15 Điều 70 + Điều 102
Các tham số so sánh lương hưu (con đường “nếu bạn chờ”)
- Số năm tối thiểu để đủ điều kiện hưởng lương hưu: 15 năm (giảm từ 20 theo luật cũ) · Luật 41/2024/QH15 (hiệu lực 1/7/2025)
- Mức nền của tỉ lệ thay thế: 45% bình quân tiền lương · Luật 41/2024/QH15 Điều 66
- Mức tăng của tỉ lệ thay thế: +2% mỗi năm trên mốc neo · Luật 41/2024/QH15 Điều 66
- Trần của tỉ lệ thay thế: 75% · Luật 41/2024/QH15 Điều 66
- Mốc neo nữ / số năm để đạt trần: 15 năm mốc neo · 30 năm để đạt 75% · Luật 41/2024/QH15 Điều 66
- Mốc neo nam / số năm để đạt trần: 20 năm mốc neo · 35 năm để đạt 75% · Luật 41/2024/QH15 Điều 66
- Dải chuyển tiếp của nam (15 đến 19 năm): 40% + 1% mỗi năm trên 15 · Luật 41/2024/QH15 Điều 66 (mức chuyển tiếp mới)
Cách đọc tỉ lệ thay thế. Một phụ nữ đạt mức nền 45% ở 15 năm và cộng thêm 2% cho mỗi năm tiếp theo, chạm trần 75% ở 30 năm. Một nam giới có 20 năm trở lên bắt đầu ở 45% và cộng 2% mỗi năm, đạt 75% ở 35 năm; một nam giới chỉ có 15 đến 19 năm áp dụng mức chuyển tiếp 40% cộng 1% mỗi năm. Lương hưu khi đó bằng tỉ lệ đó nhân với bình quân tiền lương.
Các giả định giá trị thời gian (bạn có thể thay đổi)
- Điều chỉnh lương hưu: 8% mỗi năm · Xấp xỉ bình quân 10 năm của các đợt tăng lương hưu ở Việt Nam · Luật 41/2024/QH15 Điều 67 (điều chỉnh định kỳ)
- Lợi suất khoản một lần nếu đem đầu tư: 5% mỗi năm · Một mức lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thận trọng của ngân hàng Việt Nam · Tham chiếu lãi suất tiền gửi có kỳ hạn, 2026
4. Ví dụ minh họa
Mỗi ví dụ theo chân một người thật qua toàn bộ phép tính. Các con số là kết quả chính xác của công cụ tính phía trên, dùng các giả định mặc định (điều chỉnh lương hưu 8% mỗi năm, lợi suất khoản một lần 5% mỗi năm) ở những chỗ áp dụng so sánh lương hưu.
Một điều cần ghi nhớ: khoản một lần luôn dựa trên bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của bạn, không phải lương cuối cùng. Nếu lương của bạn tăng dần trong quá trình làm việc, bình quân sẽ thấp hơn phiếu lương cuối cùng, nên con số tiền mặt thấp hơn ước tính nhanh kiểu “lương cuối × số tháng”. Công cụ tính dùng bình quân, đúng như luật yêu cầu.
Ví dụ A: Mai, một điều dưỡng di cư để đoàn tụ gia đình ở nước ngoài
Mai đã đóng bảo hiểm xã hội trong 10 năm trên mức bình quân lương 8,000,000 VND một tháng: 3 năm trong số đó rơi vào trước 2014 và 7 năm từ 2014 trở đi. Cô chuyển ra nước ngoài định cư lâu dài và sẽ không đóng nữa, nên cô đủ điều kiện theo trường hợp ra nước ngoài để định cư.
Dữ liệu nhập: bình quân lương 8,000,000 VND/tháng · 3 năm trước 2014 · 7 năm từ 2014 · tổng 10 năm.
Mai nhận 148,000,000 VND trong một lần chi trả. Với chỉ 10 năm đóng, cô dưới sàn 15 năm để hưởng lương hưu, nên không có phương án lương hưu nào để cân nhắc — khoản một lần thực sự là con đường tốt nhất để cô thu hồi phần đã đóng trước khi rời đi.
Căn cứ: Luật 41/2024/QH15 Điều 70 (mức 1,5× / 2,0×; trường hợp ra nước ngoài để định cư).
Ví dụ B: Lan, một công nhân nhà máy có quá trình đóng dài, đang cân nhắc có nên rút hay không
Lan có 20 năm đóng trên mức bình quân lương 12,000,000 VND một tháng: 6 năm trước 2014 và 14 năm từ 2014 trở đi. Sau một năm nghỉ việc, cô bị cám dỗ muốn rút, nhưng cô muốn thấy mình sẽ từ bỏ điều gì.
Dữ liệu nhập: bình quân lương 12,000,000 VND/tháng · 6 năm trước 2014 · 14 năm từ 2014 · tổng 20 năm · nữ.
Lan có thể lấy 444,000,000 VND ngay bây giờ, hoặc một lương hưu 6,600,000 VND một tháng hoàn lại khoản một lần trong vòng khoảng sáu năm và tiếp tục chi trả suốt đời.
Căn cứ: Luật 41/2024/QH15 Điều 70 (mức hưởng); Điều 66 (tỉ lệ thay thế 55%); Điều 67 (điều chỉnh).
Ví dụ C: Tuấn, một nhân viên văn phòng nam ở mốc neo lương hưu
Tuấn có 20 năm đóng trên mức bình quân lương 15,000,000 VND một tháng: 5 năm trước 2014 và 15 năm từ 2014 trở đi. Anh đúng ở mốc neo lương hưu 20 năm của nam và muốn thấy bức tranh đầy đủ.
Dữ liệu nhập: bình quân lương 15,000,000 VND/tháng · 5 năm trước 2014 · 15 năm từ 2014 · tổng 20 năm · nam.
Tuấn có thể lấy 562,500,000 VND ngay bây giờ, hoặc một lương hưu 6,750,000 VND hằng tháng hoàn lại tiền mặt trong vòng khoảng tám năm. Vì anh ở mức nền 45% chứ không phải một tỉ lệ cao hơn, điểm hòa vốn của anh muộn hơn của Lan một chút — đúng là sự đánh đổi mà một nam giới ở mốc neo 20 năm phải đối mặt.
Căn cứ: Luật 41/2024/QH15 Điều 70 (mức hưởng); Điều 66 (tỉ lệ thay thế mức nền 45%); Điều 67 (điều chỉnh).
5. Câu hỏi thường gặp
Công thức tính BHXH một lần ở Việt Nam là gì?
Khoản chi trả là 1,5 tháng bình quân tiền lương tháng đóng BHXH cho mỗi năm bạn đóng trước 2014, cộng 2,0 tháng cho mỗi năm từ 2014 trở đi, tất cả nhân với bình quân tiền lương tháng đóng BHXH của bạn. Ví dụ, 6 năm trước 2014 và 14 năm sau đó, trên mức bình quân lương 12,000,000 VND, cho (1,5 × 6 + 2,0 × 14) × 12,000,000 = 37 tháng × 12,000,000 = 444,000,000 VND. Các mức tỉ lệ đến từ Luật 41/2024/QH15 Điều 70, kế thừa các mức 1.5x và 2.0x trước đó.
Tôi nên rút bảo hiểm xã hội một lần hay chờ lương hưu?
Điều đó tùy thuộc vào hoàn cảnh của bạn. Nếu bạn ra nước ngoài định cư lâu dài hoặc sẽ không bao giờ đóng nữa, khoản một lần thu hồi tiền của bạn. Nhưng nếu bạn có thể đạt sàn 15 năm, lương hưu thường có giá trị lớn hơn nhiều theo thời gian: trong các ví dụ của công cụ tính, lương hưu hằng tháng hoàn lại toàn bộ khoản một lần trong khoảng năm đến tám năm rồi tiếp tục chi trả suốt đời, cùng các đợt tăng định kỳ trên đó. Hãy dùng đường hòa vốn phía trên với các giả định lương, điều chỉnh và lợi suất đầu tư của riêng bạn để xem điểm giao nhau rơi vào đâu đối với bạn.
Luật Bảo hiểm xã hội 2024 đã thay đổi gì về việc rút BHXH một lần?
Luật 41/2024/QH15, hiệu lực 1/7/2025, giữ nguyên công thức tính mức hưởng nhưng siết chặt khả năng tiếp cận. Thời gian đóng tích lũy sau 1/7/2025 bị khóa vào tuyến lương hưu và không còn được rút ra bằng tiền mặt nữa. Bất kỳ ai lần đầu tham gia bảo hiểm xã hội vào hoặc sau ngày đó cũng mất lối rút thông thường «12 tháng liên tục không có việc làm», chỉ còn giữ lại các trường hợp khó khăn. Những người đã đóng trước 1/7/2025 vẫn giữ toàn bộ quyền rút trước đây của họ.
Khi nào tôi có thể rút bảo hiểm xã hội một lần?
Nếu bạn bắt đầu đóng trước 1/7/2025, bạn có thể rút theo bất kỳ trong sáu trường hợp: đến tuổi nghỉ hưu mà đóng dưới 15 năm; ra nước ngoài định cư; mắc bệnh nguy hiểm đến tính mạng; suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; 12 tháng liên tục không thuộc diện bảo hiểm xã hội bắt buộc và tự nguyện mà đóng dưới 20 năm; hoặc xuất ngũ mà không đủ điều kiện hưởng lương hưu. Nếu bạn lần đầu tham gia vào hoặc sau 1/7/2025, lối 12-tháng-không-có-việc-làm bị đóng và chỉ còn lại năm trường hợp khó khăn. Bảng «khi nào tôi có thể rút?» của công cụ tính trình bày điều này theo ngày bắt đầu.
Tôi cần bao nhiêu năm để đủ điều kiện hưởng lương hưu thay vào đó?
15 năm. Cải cách năm 2024 đã giảm sàn lương hưu từ 20 năm xuống 15 (hiệu lực 1/7/2025), đây là một trong những thay đổi quan trọng nhất của nó. Nhiều người lao động trước đây buộc phải nhận một lần vì không thể đạt 20 năm thì nay có thể chờ và hưởng lương hưu thay vào đó. Trong công cụ tính, nếu tổng số năm của bạn dưới 15 thì phần so sánh lương hưu bị ẩn, vì không có lương hưu nào để so sánh; từ 15 năm trở lên, phần so sánh và đường hòa vốn xuất hiện.
Khoản một lần dựa trên lương cuối cùng hay bình quân tiền lương của tôi?
Bình quân tiền lương tháng đóng BHXH trong suốt quá trình làm việc của bạn, không phải lương cuối cùng. Vì lương của hầu hết mọi người tăng theo thời gian, bình quân thấp hơn phiếu lương cuối cùng, nên ước tính nhanh kiểu «lương cuối nhân số tháng» phóng đại khoản chi trả. Công cụ tính dùng bình quân, đúng như luật áp dụng. Nếu bạn không chắc về bình quân của mình, sổ bảo hiểm xã hội (sổ BHXH) ghi lại mức lương làm căn cứ đóng BHXH cho từng giai đoạn.
Vì sao các năm trước 2014 có giá trị thấp hơn (1,5 tháng) so với các năm sau (2,0 tháng)?
Hai mức tỉ lệ là di sản của quá trình tiến hóa của luật. Các năm đóng trước 2014 được định giá theo mức cũ 1,5-tháng-mỗi-năm, trong khi các năm từ 2014 trở đi dùng mức 2,0-tháng-mỗi-năm do Luật 58/2014/QH13 đưa ra (được sửa đổi bởi Luật 71/2014/QH13). Luật 41/2024/QH15 giữ lại cả hai mức thay vì san phẳng chúng, nên một quá trình làm việc dài vắt qua năm 2014 được chia thành một phần 1.5x và một phần 2.0x, đúng như công cụ tính thể hiện trong thanh phân tích hai màu.
Tôi còn có thể rút những năm đóng sau tháng 7/2025 không?
Không. Theo Luật 41/2024/QH15, thời gian đóng tích lũy từ 1/7/2025 trở đi được dành cho lương hưu và không thể nhận bằng khoản một lần. Chỉ phần đóng của bạn cho đến ngày đó được tính vào việc rút. Đây là thay đổi thực tế lớn nhất đối với người lao động hiện tại: bạn càng tiếp tục đóng lâu sau mốc cắt, phần chỉ-dành-cho-lương-hưu trong hồ sơ của bạn càng lớn, điều mà công cụ tính phản ánh bằng cách giới hạn số năm có thể rút ở phần đóng trước mốc cắt của bạn.
6. Các tình huống và trường hợp đặc biệt
- Bạn tham gia trước 1/7/2025 (phần lớn người lao động hiện tại). Bạn giữ cả sáu trường hợp rút, bao gồm lối thông thường «12 tháng không có việc làm mà đóng dưới 20 năm». Thời gian đóng của bạn cho đến mốc cắt là rút được; thời gian sau đó chỉ dành cho lương hưu.
- Bạn lần đầu tham gia vào hoặc sau 1/7/2025. Lối 12-tháng-không-có-việc-làm bị đóng đối với bạn. Bạn chỉ có thể rút theo năm trường hợp khó khăn (đến tuổi nghỉ hưu mà đóng dưới 15 năm, ra nước ngoài định cư, mắc bệnh nguy hiểm đến tính mạng, suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, hoặc xuất ngũ mà không có lương hưu).
- Bạn dưới sàn 15 năm để hưởng lương hưu. Không có lương hưu nào để cân nhắc, nên khoản một lần là cách duy nhất để hiện thực hóa phần đã đóng của bạn. Trong trường hợp này, công cụ tính ẩn phần so sánh lương hưu (như ở Ví dụ A).
- Bạn ở mức 15 năm trở lên. Cả hai con đường đều mở. Đường hòa vốn cho thấy khi nào lương hưu vượt qua khoản một lần đem đầu tư; đối với phần lớn hồ sơ đủ điều kiện hưởng lương hưu, điều này nằm trong vòng năm đến tám năm với các giả định mặc định.
- Toàn bộ quá trình làm việc của bạn là sau 2014. Phần 1.5x bằng không và toàn bộ khoản chi trả dùng mức 2.0x, nên thanh phân tích chỉ hiển thị một đoạn duy nhất.
- Bạn đóng trước 1995. Bảo hiểm xã hội bắt buộc cho khu vực tư nhân bắt đầu từ năm 1995; người lao động nhà nước được bao phủ sớm hơn. Thanh trượt trước-2014 của công cụ tính đặt trên các kịch bản khu vực tư nhân thực tế, nhưng phép toán nền tảng xử lý chính xác bất kỳ số năm trước 2014 nào.
- Giá trị thời gian là quan trọng. Khoản một lần là tiền mặt hôm nay; lương hưu là một dòng tiền được điều chỉnh định kỳ. Đặt các thanh trượt điều chỉnh và lợi suất về 0% cho thấy so sánh thuần danh nghĩa; các giá trị mặc định (8% và 5%) phản ánh các đợt tăng lương hưu trong lịch sử của Việt Nam và một mức lãi suất tiền gửi thận trọng.
7. Thuật ngữ chính
8. Căn cứ pháp lý và nguồn
Mọi con số trên trang này đều truy được về văn bản pháp luật gốc của Việt Nam. Các liên kết chủ yếu dẫn tới Cổng Thông tin Pháp luật Quốc gia (phapluat.gov.vn), cổng của Bộ Tư pháp mà HAPRI dùng làm nguồn chính thức, kèm theo một liên kết toàn văn tới Cơ sở dữ liệu Pháp luật Quốc gia (vbpl.vn).
9. Phương pháp, phạm vi và miễn trừ
Trang này và công cụ tính phía trên mô phỏng việc rút BHXH một lần theo Luật 41/2024/QH15 (hiệu lực 1/7/2025) cho trường hợp phổ biến: một người lao động đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và đang quyết định giữa việc rút tiền mặt và một lương hưu trong tương lai. Mức hưởng dùng các mức 1.5x (trước 2014) và 2.0x (từ 2014) trên bình quân tiền lương tháng đóng BHXH; phần so sánh lương hưu dùng biểu tỉ lệ thay thế tại Điều 66 và chiếu cả hai dòng tiền về phía trước theo các giả định điều chỉnh và lợi suất đầu tư do người dùng đặt.
Nó không mô phỏng việc mua bù bảo hiểm xã hội tự nguyện, chế độ bệnh nghề nghiệp hay tai nạn lao động, chế độ tử tuất, hoặc khoảng cửa sổ tính bình quân nhìn lại chính xác cho tiền lương hưu trí (vốn thay đổi theo năm bắt đầu tại Điều 72). Nó giả định một quá trình đóng duy nhất, liên tục và xử lý phần chia trước 2014 / từ 2014 theo năm trọn; các hồ sơ thực tế có chuyển tiếp giữa năm được cơ quan bảo hiểm xã hội tính theo tỉ lệ.
Công cụ tính là một công cụ hỗ trợ ước tính, không phải tư vấn chuyên môn hay pháp lý. Để có một con số ràng buộc hoặc một hồ sơ chính thức, hãy liên hệ Bảo hiểm Xã hội Việt Nam hoặc một cố vấn được cấp phép. HAPRI là một viện nghiên cứu độc lập không có lợi ích thương mại nào trong kết quả của bạn; công cụ là miễn phí và toàn bộ phương pháp được công bố để bạn có thể kiểm chứng từng con số.
10. Về công cụ này
HAPRI (Viện Nghiên cứu Chính sách Y tế và Nông nghiệp) xây dựng các công cụ miễn phí, được tài liệu hóa công khai để giúp chính sách công của Việt Nam trở nên dễ hiểu đối với những người chịu tác động. Công cụ tính này là một phần của bộ bảy công cụ bao quát thuế thu nhập cá nhân, lương thực nhận, lương hưu và bảo hiểm xã hội. Quyết định giữa khoản một lần và lương hưu là một trong những lựa chọn tài chính hệ trọng nhất mà một người lao động Việt Nam đưa ra, và là một lựa chọn mà chi phí dài hạn của việc rút tiền mặt rất dễ bị đánh giá thấp, nên công cụ được xây dựng để cho thấy cả hai mặt mà không hướng bạn về phía nào. Phép toán được quản lý phiên bản, được kiểm thử đối chiếu với pháp luật gốc, và được làm mới từ một cơ sở dữ liệu hằng số trực tiếp, nên các con số ở đây luôn theo kịp đạo luật khi nó thay đổi.
11. Các công cụ tính liên quan của HAPRI
- Công cụ tính thuế thu nhập cá nhân — thuế TNCN hàng tháng theo biểu 5 bậc năm 2026 (Luật 109/2025/QH15).
- Công cụ tính lương Gross sang Net — đổi lương Gross trong hợp đồng sang lương Net thực nhận hàng tháng.
- Công cụ tính lương Net sang Gross — tính ngược từ mức Net mong muốn ra mức Gross mà nhà tuyển dụng cần trả.
- Công cụ tính thuế thưởng Tết / lương tháng 13 — thuế TNCN cho thưởng Tết và lương tháng 13, so sánh nhận một lần và chia đều.
- Công cụ tính lương hưu — lương hưu hàng tháng theo Luật BHXH 41/2024/QH15.
- Công cụ tính trợ cấp thất nghiệp — trợ cấp thất nghiệp hàng tháng và số tháng được hưởng.
