Published Paper
2352-1864
Environmental Technology & Innovation
Đánh đổi kinh tế - thủy văn từ thâm canh lúa ba vụ tại Đồng bằng sông Cửu Long: Xem xét lại tác động môi trường và các hướng thích ứng
Dung Duc Tran, Edward Park, Thong Anh Tran, et al
DOI:
Từ khoá:
Polders, Livelihoods, Intensifications, Agriculture, Sustainable Development, Rural transformation
Tóm tắt
Sự đánh đổi giữa tăng trưởng kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường vẫn là vấn đề then chốt của phát triển bền vững, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Tại vùng đồng bằng ngập lũ của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), việc phát triển các polder (ô đê bao) đê cao cho sản xuất lúa thâm canh đã làm suy thoái hệ sinh thái và thay đổi cấu trúc kinh tế - xã hội. Các hướng phát triển bền vững cần được cân nhắc trong quá trình xây dựng chính sách để theo kịp những chuyển đổi này. Nghiên cứu đánh giá quá trình phát triển kinh tế - xã hội và sản xuất nông nghiệp lúa gạo đan xen nhau dựa trên dữ liệu hỗn hợp, trong đó có 550 cuộc phỏng vấn nông dân tại hai tỉnh đồng bằng ngập lũ lớn là An Giang và Đồng Tháp. Nghiên cứu làm nổi bật ưu và nhược điểm của hệ thống thâm canh lúa ba vụ dưới đê cao so với hệ thống đê thấp. Kết quả cho thấy suy thoái môi trường do lạm dụng hóa chất nông nghiệp (phân bón và thuốc trừ sâu) gây thiệt hại khoảng 565 USD/ha/vụ, dẫn đến lợi ích biên của thâm canh lúa ba vụ thấp hơn so với mô hình thâm canh lúa hai vụ. Điều này bao gồm cả các chi phí cao hơn mà nông dân/cộng đồng địa phương phải gánh chịu, do tác động bất lợi của hóa chất nông nghiệp đến sức khỏe của họ. Nghiên cứu kêu gọi chính quyền địa phương khẩn cấp xem xét các nguyên nhân suy thoái môi trường trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong canh tác lúa, và cân nhắc liệu thâm canh nông nghiệp như thâm canh lúa ba vụ có phải là hướng phát triển phù hợp cho kinh tế nông thôn hay không.
Dung Duc Tran, Edward Park, Thong Anh Tran, et al (2023), "Đánh đổi kinh tế - thủy văn từ thâm canh lúa ba vụ tại Đồng bằng sông Cửu Long: Xem xét lại tác động môi trường và các hướng thích ứng", Environmental Technology & Innovation, 29, DOI: 10.1016/j.eti.2022.102987



