top of page

Việt Nam đã mất sự ủng hộ của công chúng. Cuộc chiến chống COVID-19 vì thế vấp ngã.

  • 1 ngày trước
  • 7 phút đọc

Quản trị hợp tác và lãnh đạo tạo thuận lợi sẽ giúp Việt Nam giành chiến thắng trong cuộc chiến chống COVID-19.

Một bài viết mới từ TS. Lê Vĩnh Triển - Phó Viện Trưởng HAPRI.

Việt Nam, ảnh của Thomas G. từ Pixabay

Đại dịch COVID-19 đã tác động đến mọi lĩnh vực, mọi cấp quản trị và mọi góc độ xã hội. Theo đó, nhiều phản ứng chính sách đã được triển khai theo hướng hợp tác. Tuy nhiên, đại dịch cũng làm nổi bật những thách thức trong quản trị, đòi hỏi cải cách để chuẩn bị cho các khủng hoảng trong tương lai. Thành công sớm và những khó khăn gần đây của Việt Nam trước COVID-19 cung cấp những ví dụ minh họa.

Trong đợt bùng phát toàn cầu đầu tiên của COVID-19 (từ tháng 1 đến tháng 5/2020), hầu hết các chính phủ bị bất ngờ trước sự lan rộng nhanh và nghiêm trọng của vi-rút, phải dựa vào thông tin không đầy đủ và các kinh nghiệm thường đã lỗi thời để tỏ ra phản ứng. Một số quốc gia như Iran, Ý, Hàn Quốc đã gặp khó khăn đáng kể trong việc kiểm soát. Những quốc gia khác, như Việt Nam và Đài Loan, đã tỏ ra tiếp cận đúng chiến lược ban đầu.

Tuy nhiên, trải nghiệm của Việt Nam trong giai đoạn gần đây nhất của đại dịch đã kém khả quan hơn. Biến thể Delta với khả năng lây lan cao đã thử thách và cuối cùng phá vỡ hệ thống phòng thủ đại dịch trước đây từng hiệu quả của đất nước. Điều này đã bộc lộ rõ tại thành phố kinh tế của Việt Nam — Thành phố Hồ Chí Minh, nơi số ca nhiễm và tử vong vẫn tiếp tục ở mức cao sau hơn hai tháng phong tỏa.

Có rất nhiều lời giải thích về những thất bại kiểm soát gần đây của Việt Nam, và lời giải thích thực sự có lẽ là sự kết hợp của các giả thuyết này. Có thể xã hội đã rơi vào trạng thái chủ quan sau thành công ban đầu của Việt Nam, tin rằng những phương pháp đã kiềm giữ biến thể gốc sẽ đủ để đối phó với biến thể Delta mới xuất hiện. Việc nhập vắc-xin diễn ra không được nhanh chóng như cần thiết, một phần do niềm tin vào việc phát triển vắc-xin nội địa (mà đến nay vẫn chưa được phân phối). Hơn nữa, năng lực cách ly và điều trị tất cả các ca nhiễm của các bệnh viện đã bị tê liệt do các ca nghiêm trọng ưu tiên hơn — một xu hướng được quan sát ở hầu hết các quốc gia đang trải qua đợt bùng phát ca mới gần đây.

Sẽ là bổ ích nếu xem xét những thất bại này qua lăng kính quản trị hợp tác. Trong mô hình này, nhà nước đóng vai trò tạo thuận lợi bằng cách tổng hợp các quan điểm của công chúng, hiểu biết chuyên môn, và những ràng buộc và thực tại của năng lực chính phủ. Các bên tham gia đại diện cho các lĩnh vực khác nhau của kinh tế và xã hội được mời chia sẻ quan điểm của mình để theo đuổi lợi ích chung.

Đại dịch COVID-19 đã nhấn mạnh không chỉ ở việc bắt buộc phải bao gồm các tiếng nói đa dạng trong quá trình hoạch định chính sách (bao gồm chuyên gia, chính trị gia, xã hội dân sự, và công chúng), mà còn chỉ ra tầm quan trọng của tính chính đáng chính trị và sự ủng hộ của công chúng. Hầu hết các chiến lược kiềm giữ đại dịch đều có sự tham gia của công chúng ở cấp độ cá nhân: đeo khẩu trang, giãn cách xã hội, và thực hành vệ sinh đúng cách. Để thay đổi hành vi như vậy, tính chính đáng của dự án chính sách là điều then chốt. Một cách để đạt được tính chính đáng này là chính phủ thực hành lãnh đạo tạo thuận lợi liên ngành và thu hút công chúng vào quá trình hoạch định chính sách.

Đánh giá cách tiếp cận quản trị hợp tác của Việt Nam đối với COVID-19

Khi đợt đại dịch lớn đầu tiên của Việt Nam tiếp diễn, chính phủ dường như đã đi ngược lại các thực hành hiệu quả trước đó trong khi tính nhất quán chính sách suy giảm. Doanh nghiệp thương mại chịu đứt gãy chuỗi cung ứng. Các nhóm dễ tổn thương đối mặt với nguy cơ về sức khỏe và kinh tế cao hơn. Các nhóm tình nguyện và tổ chức xã hội dân sự gặp khó khăn trong việc hỗ trợ các nhóm thiệt thòi. Các nhà khoa học, bác sĩ và chuyên gia thường không được thuyết phục bởi các biện pháp ứng phó của chính phủ.

Các biện pháp chống đại dịch được xây dựng không có sự hợp tác không phản ánh tiếng nói của các cộng đồng đa dạng. Khi quyền lực chính trị giữa các cộng đồng này không cân bằng, mâu thuẫn chính sách nổi lên và một phản ứng dây chuyền xuất hiện. Số ca nhiễm tăng khi người dân phản đối các quy tắc hành vi hạn chế, làm căng thẳng năng lực y tế và đưa các nhóm dễ tổn thương vào thế nguy hiểm. Rốt cuộc, thông điệp lẫn lộn ở cấp chính sách làm giãn rộng khoảng cách niềm tin giữa chính phủ và người dân.

Chẳng hạn, ngày 10/7, Bí thư Thành ủy Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh đã gặp gỡ các nhà khoa học trong một động thái tạo ra một số uy tín chính trị cho khoa học làm nền tảng cho một số biện pháp chính sách. Tuy nhiên, động thái này cũng đặt ra câu hỏi vì sao những cuộc tham vấn tương tự không được tổ chức sớm hơn cho tất cả các bên liên quan. Việc thiếu phối hợp và hợp tác từ sớm, đặc biệt trong một cuộc khủng hoảng ít được hiểu biết nhưng đang tiến triển nhanh, có thể dẫn đến những chính sách không rõ ràng và khó tuân thủ. Sau khi mất cơ hội trở thành người lãnh đạo tạo thuận lợi, chính phủ chỉ còn lại lựa chọn khắc nghiệt hơn là kiểm soát thông tin trong khi tìm cách quản lý hình ảnh bằng cách tỏ ra mạnh mẽ.

Vòng luẩn quẩn này làm suy giảm niềm tin thêm nữa. Nếu công chúng tin tưởng chính phủ và chuyên gia, ngay cả những thông tin làm nản lòng cũng ít có khả năng gây ra hoảng loạn và đồn đoán. Ngược lại, thiếu niềm tin trong chiến lược kiểm soát thông tin có thể dẫn đến việc công chúng tin vào những tin đồn củng cố thiên kiến của họ hoặc bị cuốn theo các xu hướng báo động. Chính phủ phải phá vỡ vòng luẩn quẩn này.

Một lối đi phía trước dựa trên hợp tác

Các khoảnh khắc khủng hoảng là cơ hội để thiết lập hợp tác. Chính phủ Việt Nam nên tiếp cận COVID-19 theo cách này bằng cách thành lập một diễn đàn chính thức với đại diện từ tất cả các cộng đồng. Các bên tham gia nên bao gồm các chuyên gia, trí thức, giới truyền thông, nhà hoạt động xã hội và đại diện của các cộng đồng doanh nghiệp, tôn giáo và các cộng đồng khác. Các hoạt động hợp tác nên được xây dựng, triển khai và báo cáo công khai để củng cố niềm tin vào hệ thống hoạch định chính sách. Ngoài ra, các sáng kiến chính sách nên đề cập không chỉ đến nội dung cần thiết để chống đại dịch (ví dụ: nguồn lực cho ngành y tế và các tổ chức xã hội dân sự) mà còn đề cập đến các quy trình ra quyết định khi tình hình tiến triển. Cách tiếp cận này bao gồm việc cung cấp thông tin nhất quán công khai cả về dịch tễ học và quản trị.

Về dài hạn, các chính phủ nên nỗ lực trên hai mặt trận. Thứ nhất, họ nên trở thành người lãnh đạo tạo thuận lợi, đặc biệt ở những nơi hiện thiếu hệ thống tham gia. Trong vai trò này, chính phủ nên tìm cách xây dựng niềm tin không chỉ giữa nhà nước và xã hội, mà còn giữa các nhóm thành phần trong xã hội; điều này rất quan trọng vì trong nhiều trường hợp, năng lực ứng phó liên quan đến các cơ quan ngoài chính phủ. Các chính phủ trong vai trò tạo thuận lợi có được quyền lực và tính chính đáng từ niềm tin của công chúng, nên thể hiện trách nhiệm giải trình, cởi mở và minh bạch.

Thứ hai, các chính phủ nên công nhận và hỗ trợ chính thức các tổ chức xã hội dân sự. Các loại tổ chức này thường có kết nối tốt hơn với lợi ích và nhu cầu của các nhóm thành phần, bao gồm những cá nhân có hoàn cảnh kinh tế-xã hội thiệt thòi, hơn cả chính phủ. Tại Việt Nam, chính quyền địa phương và Mặt trận Tổ quốc do Đảng Cộng sản bảo trợ phải nỗ lực hơn nữa để phục vụ các cá nhân dễ tổn thương bằng cách tăng cường và phối hợp với các tổ chức tình nguyện, tôn giáo và xã hội dân sự. Khủng hoảng COVID-19 không phải là dịp để từ bỏ tiến trình phát triển những năng lực tham gia và hợp tác vốn là nền tảng để củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội.

 
 
bottom of page