top of page

Việt Nam trong đại dịch COVID-19: Lựa chọn chính sách phục hồi kinh tế

  • 31 thg 8, 2021
  • 5 phút đọc

Tóm tắt


Sự xuất hiện của COVID-19 đã thay đổi căn bản các hoạt động toàn cầu. Đối mặt với tác động dài hạn của đại dịch, các quốc gia phải giải quyết các vấn đề liên quan đến phục hồi kinh tế, y tế, giáo dục, khí hậu, an ninh quốc gia và xây dựng niềm tin của công chúng. Trong đó, ưu tiên hàng đầu của các quốc gia là phục hồi kinh tế sau COVID-19. Bài học từ Israel, Hoa Kỳ, Đức và Trung Quốc nhấn mạnh nhu cầu kết hợp chặt chẽ các biện pháp y tế công với chính sách tài khóa và tiền tệ kịp thời để đồng thời kiềm giữ sự lan tràn của vi-rút và duy trì ổn định kinh tế.


Đến nay, Việt Nam đã trải qua bốn đợt lây nhiễm kể từ ca đầu tiên ngày 23/01/2020. Tuy nhiên, tỷ lệ tiêm chủng của Việt Nam vẫn thấp hơn mức trung bình toàn cầu. Điều này đã tác động đáng kể đến nền kinh tế Việt Nam, dẫn đến đóng cửa doanh nghiệp và sa thải, đặc biệt ảnh hưởng đến dân số trong độ tuổi lao động. Để giúp nền kinh tế vượt qua những thách thức này, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra một số gói hỗ trợ. Phần lớn nguồn vốn này được phân bổ trực tiếp để hỗ trợ tài chính cho các công ty và cá nhân dễ tổn thương, lên tới khoảng 0,982% GDP. Khoảng ba phần tư số vốn này đến trực tiếp từ ngân sách nhà nước (bao gồm dự phòng từ Quỹ Bảo hiểm Thất nghiệp), trong khi phần còn lại kết hợp khoản thanh toán thế chấp hoãn lại và vay ưu đãi cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng (Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2020).


Phân tích chính sách này đề xuất một số biện pháp cần thiết cho phục hồi và phát triển kinh tế, gồm: (1) đầu tư y tế, (2) tận dụng công nghệ số trong phòng chống dịch, (3) cho phép khu vực tư nhân tham gia vào quy trình phân phối vắc-xin, (4) tăng giá trị các gói hỗ trợ, (5) tập trung hỗ trợ người lao động trong thời gian khó khăn, (6) huy động chi phí hỗ trợ, và (7) các hành động khác để hỗ trợ phục hồi kinh tế sau COVID-19. Cụ thể như sau:


  • Cho đến khi có các phương pháp điều trị hiệu quả hoặc tiêm chủng toàn cầu rộng rãi, các biện pháp y tế công sẽ vẫn đóng vai trò then chốt trong chống vi-rút[1] (OECD, 2020). Cụ thể, Việt Nam cần nhanh chóng nâng cao khả năng chống dịch thông qua đầu tư vào hạ tầng và nhân lực y tế.


  • Tích hợp công nghệ số vào kiểm soát đại dịch là chiến lược chung của các quốc gia quản lý thành công COVID-19 (Whitelaw, Mamas, Topol, & Van Spall, 2020). Để giải quyết những khoảng trống hiện nay trong phản ứng số của Việt Nam, cần hướng dẫn rõ ràng và truyền thông trước khi triển khai hoặc điều chỉnh quy định. Ngoài ra, Việt Nam cần sử dụng thiết bị công nghệ để giám sát và quản lý cách ly tại nhà (F0, F1) và theo dõi bệnh nhân để tạo điều kiện điều trị kịp thời.


  • Khi nguồn cung vắc-xin toàn cầu cải thiện, việc đưa khu vực tư nhân vào phân phối vắc-xin COVID-19 là cấp thiết để khắc phục điểm nghẽ̃n cổ chai và đảm bảo vắc-xin sẵn có nhanh chóng (David, Anna, Sneha, & Andreas, 2021). Các đơn vị tư nhân có thể tham gia sản xuất vắc-xin hoặc đóng góp trực tiếp vào nguồn cung vắc-xin. Ngoài ra, họ có thể hỗ trợ chính phủ trong việc mua sắm vắc-xin, quản lý chuỗi cung ứng, và hạ tầng cho lưu trữ, vận chuyển và phân phối. Để đẩy nhanh tiêm chủng và đạt miễn dịch cộng đồng, Bộ Y tế và Chính phủ Việt Nam có thể cân nhắc cho phép các đơn vị và bệnh viện đủ điều kiện cung cấp dịch vụ tiêm chủng. Tính minh bạch trong quy trình này có thể được nâng cao thông qua quy định pháp lý rõ ràng.


  • Phân bổ ngân sách của Việt Nam cho các giải pháp liên quan đến COVID chỉ chiếm 1,7% GDP, thấp hơn mức trung bình của các nước đang phát triển thu nhập thấp (LIDCs). Theo đó, Việt Nam có thể tăng giá trị các gói hỗ trợ để tương đương với mức trung bình của khu vực ASEAN-5 (gồm các quốc gia có mức độ phát triển kinh tế tương tự), tương ứng với 5,1% GDP. Tuy nhiên, về nguyên tắc, các chính sách kích thích tài khóa nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế có thể dẫn đến nợ tăng và lãi suất trái phiếu chính phủ tăng. Kết hợp chính sách tiền tệ và tài khóa là cấp thiết để giảm thiểu sự vướng víu của tăng lãi suất và trả nợ. Bài học từ Hoa Kỳ và các quốc gia phát triển khác nhấn mạnh rằng Việt Nam cần thận trọng trong việc triển khai các biện pháp tài khóa hiệu quả để ổn định điều kiện vĩ mô trong tương lai.


  • Chính sách hỗ trợ cho lao động phi chính thức và thất nghiệp do COVID-19 là cấp thiết và khẩn cấp. Sau tính toán cẩn thận, nhóm tác giả đề xuất ba kịch bản hỗ trợ: (1) Kịch bản tích cực với tổng chi hỗ trợ tương đương 0,46% GDP năm 2020; (2) Kịch bản cơ sở tương ứng 0,91% GDP; và (3) Kịch bản tiêu cực với mức hỗ trợ tương đương 3,30% GDP.


  • Để tài trợ cho các gói chi tiêu tài khóa này, chính phủ có thể huy động nguồn lực tài chính thông qua phát hành trái phiếu chính phủ trên cả thị trường vốn quốc tế và nội địa. Ngoài ra, Việt Nam có thể vay từ các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và vay ưu đãi (ODA). Bên cạnh các cơ chế tài trợ này, dự trữ quốc gia cũng đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ phòng chống COVID-19.


  • Để phục hồi kinh tế sau COVID-19, Việt Nam nên khuyến khích và đầu tư vào các lĩnh vực đầy hứa hẹn như thương mại điện tử. Xây dựng nền kinh tế số dựa trên nền tảng hỗ trợ của chính phủ là cấp thiết (Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2020). Các ngân hàng nhà nước và đầu tư công sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong phục hồi và tái thiết sau COVID (Liên Hợp Quốc, 2020). Hơn nữa, các chính sách nên khuyến khích và trao quyền cho khu vực tư nhân để tập trung vào các điểm mạnh kinh tế nội địa, bao gồm phân cấp lớn hơn cho chính quyền địa phương (Shannon & Carlson, 2021).


Nhóm tác giả:

TS. Võ Tất Thắng, Nguyễn Thị Hồng Ngọc,

Nguyễn Thị Bích Hiền, Nguyễn Hoàng Lan, Trương Trần Minh Thu


Đọc toàn văn bài viết tại:



CHUỖI THẢO LUẬN CHÍNH SÁCH HAPRI 30/08/2021

 
 
bottom of page