top of page

Law

​

Tình trạng được ghi nhận: Hết hiệu lực

Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân số Không số

Quốc hội

Quốc hội

Cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân và là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp ở Việt Nam. Quốc hội ban hành và sửa đổi Hiến pháp, luật, quyết định các chính sách quốc gia quan trọng và ngân sách nhà nước, và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; đại biểu Quốc hội do cử tri cả nước bầu ra.

Loại văn bản
Số hiệu văn bản
Tình trạng được ghi nhận
Ngày có hiệu lực
Cơ quan ban hành
Nguồn chính thức
Law
No longer in effect
05/07/1994
Quốc hội
https://phapluat.gov.vn/legal-documents/10420

Nội dung chính

  • Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương và Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu là cơ quan chấp hành, cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

  • Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được tổ chức ở cấp Tỉnh, cấp Huyện và cấp Xã, nhiệm kỳ năm năm; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có Thường trực và các ban chuyên trách.

  • Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề về kinh tế, ngân sách, văn hoá, xã hội, khoa học, môi trường, quốc phòng, an ninh, chính sách dân tộc, tôn giáo, thi hành pháp luật và xây dựng chính quyền địa phương.

  • Đại biểu Hội đồng nhân dân phải tham dự các kỳ họp, liên hệ với cử tri, trả lời kiến nghị, và có quyền chất vấn cũng như yêu cầu cơ quan Nhà nước, cán bộ địa phương giải quyết công việc.

  • Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và thành viên, họp ít nhất mỗi tháng một lần và quyết định tập thể các vấn đề quan trọng theo đa số.

Tóm tắt

Văn bản và căn cứ pháp lý


Đây là Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, được ban hành căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Bản được cung cấp không có số hiệu văn bản ('Không số'). Luật quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ở các cấp chính quyền địa phương.


Phạm vi và cơ cấu chính quyền địa phương


Hội đồng nhân dân được xác định là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, còn Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương. Cả hai được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.


Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính: cấp Tỉnh và tương đương, cấp Huyện và tương đương, cấp Xã và tương đương. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có Thường trực Hội đồng nhân dân và các ban chuyên trách. Nhiệm kỳ của mỗi khoá Hội đồng nhân dân là năm năm.


Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân


Luật quy định các vấn đề Hội đồng nhân dân quyết định trên các lĩnh vực: kinh tế (bao gồm kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách địa phương); văn hoá, xã hội và đời sống; khoa học, công nghệ và môi trường; quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; chính sách dân tộc và tôn giáo; thi hành pháp luật; và xây dựng chính quyền địa phương cùng quản lý địa giới hành chính. Hội đồng nhân dân thảo luận và ra nghị quyết về các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, biểu quyết bằng cách giơ tay, bỏ phiếu kín hoặc theo phương thức được quy định.


Đại biểu Hội đồng nhân dân


Đại biểu đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, phải tham dự đầy đủ các kỳ họp, liên hệ chặt chẽ với cử tri, tiếp nhận và trả lời kiến nghị của cử tri, và có quyền chất vấn Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng các chức danh khác. Đại biểu có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế và các đối tượng khác giải quyết những vấn đề công chúng quan tâm. Luật quy định việc xin thôi làm nhiệm vụ, bãi nhiệm khi không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân, mất quyền đại biểu khi bản án hình sự có hiệu lực, và bảo vệ đại biểu không bị bắt nếu không có sự đồng ý của Chủ toạ kỳ họp trong thời gian họp hoặc của Thường trực trong thời gian khác.


Uỷ ban nhân dân và cơ quan chuyên môn


Uỷ ban nhân dân tổ chức và chỉ đạo việc thi hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cấp trên, thực hiện quản lý Nhà nước và quản lý địa giới hành chính. Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, gồm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các thành viên, với số lượng thành viên quy định theo từng cấp. Uỷ ban nhân dân họp ít nhất mỗi tháng một lần, quyết định tập thể các vấn đề quan trọng theo đa số, còn Chủ tịch lãnh đạo và điều hành công việc. Các cơ quan chuyên môn giúp Uỷ ban nhân dân và chịu sự chỉ đạo, quản lý của cả Uỷ ban nhân dân và cơ quan chuyên môn cấp trên; Chính phủ quy định tổ chức và hoạt động của các cơ quan này.


Sắp xếp đơn vị hành chính


Luật quy định tính liên tục của chính quyền địa phương trong trường hợp sáp nhập, chia tách, thay đổi cấp quản lý hành chính hoặc địa giới của đơn vị hành chính, chuyển một phần địa phận và dân cư sang đơn vị khác, và các biện pháp khi một tập thể dân cư được điều động di chuyển đi nơi khác.

Văn bản liên quan

4 văn bản liên quan

Về bản tóm tắt này

HAPRI LawWatch trình bày bản tóm tắt, nội dung chính và các liên kết văn bản liên quan. Nội dung này không phải văn bản chính thức hoặc tư vấn pháp lý. Đối chiếu với nguồn chính thức trước khi áp dụng.

Nguồn chính thức (mở trong thẻ mới)

bottom of page