Già hóa dân số, phân bổ nhiệm vụ và nhu cầu lao động nước ngoài
Hội thảo HAPRI
HAPRI sẽ tổ chức một hội thảo với diễn giả là Giáo sư Nguyễn Quốc Hùng, người sẽ trình bày bài nghiên cứu "Demographic Aging, Task Allocation, and Foreign Labor Demand." Hội thảo sẽ diễn ra vào thứ Hai, ngày 07/09/2026, từ 15:00 đến 17:00 (GMT+7), tại Phòng B1-203, Tòa nhà B, 279 Nguyễn Tri Phương, Phường 5, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hội thảo xem xét cách những thay đổi trong cơ cấu độ tuổi của lực lượng lao động trong nước định hình nhu cầu lao động nước ngoài. Hội thảo tiếp cận, từ góc độ phân bổ nhiệm vụ, một câu hỏi có ý nghĩa ở mọi nơi mà biến động nhân khẩu học làm thay đổi cơ cấu lực lượng lao động.

Tóm tắt
Bài nghiên cứu đặt câu hỏi: những thay đổi nhân khẩu học trong cơ cấu lực lượng lao động trong nước tác động thế nào đến nhu cầu lao động nước ngoài? Trong mô hình phân bổ nhiệm vụ, doanh nghiệp phân bổ lao động trong nước thuộc nhóm trẻ hơn và nhóm có kinh nghiệm giữa các nhiệm vụ sản xuất và quản lý. Trong khuôn khổ này, nhu cầu lao động nước ngoài phụ thuộc vào quy mô tương đối của hai nhóm và mức độ thâm dụng lao động của từng nhóm trong các nhiệm vụ khác nhau.
Mô hình phân biệt cẩn trọng giữa hai nhóm lao động này. Ở những nhiệm vụ sản xuất thâm dụng lao động trẻ hơn, lao động nước ngoài thay thế lao động trẻ hơn. Đồng thời, lao động có kinh nghiệm cần thiết để duy trì năng lực tổ chức. Hàm ý là sự suy giảm của lao động trẻ hơn, tự nó, không phản ánh đầy đủ bối cảnh nhân khẩu học mà trong đó doanh nghiệp có nhu cầu lao động nước ngoài. Nguồn cung lao động có kinh nghiệm cũng có vai trò quan trọng.
Về thực nghiệm, nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cấp tỉnh của Nhật Bản, cùng với bằng chứng bổ trợ từ biến công cụ. Nghiên cứu cho thấy các tỉnh có mức suy giảm lao động trẻ hơn mạnh hơn và nguồn cung lao động có kinh nghiệm ổn định hơn tiếp nhận dòng lao động nước ngoài lớn hơn. Các ước lượng cũng hàm ý một điều kiện hòa vốn về nhân khẩu học: nhu cầu lao động nước ngoài suy yếu khi sự thu hẹp của nhóm lao động có kinh nghiệm trở nên đủ lớn so với mức suy giảm của lao động trẻ hơn. Diễn giải một cách đơn giản, mô hình xác định một ngưỡng mà tại đó sự hao hụt lao động có kinh nghiệm có thể hạn chế năng lực tổ chức cần thiết để duy trì nhu cầu lao động nước ngoài.
Lực lượng lao động nước ngoài của Nhật Bản: tăng trưởng và thay đổi cơ cấu
Số lao động nước ngoài tại Nhật Bản tăng từ 649,9 nghìn năm 2010 lên 1.658,8 nghìn năm 2019, tức tăng gấp 2,6 lần. Lực lượng lao động này vừa tăng về quy mô, vừa chuyển dịch về cơ cấu. Xét theo quy mô suy ra từ tỷ trọng và tổng số được báo cáo, không nhóm nào trong bốn tư cách lưu trú giảm.
Bốn tư cách lưu trú
Tên gọi các nhóm là của chính bài nghiên cứu. Các định nghĩa dưới đây theo Cục Quản lý Xuất nhập cảnh và Lưu trú (ISA), Bộ Tư pháp Nhật Bản, đối với cùng thống kê việc làm của người nước ngoài do Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản (MHLW) công bố mà bài nghiên cứu sử dụng:
Chuyên môn và kỹ thuật: Các tư cách lưu trú để làm việc trong lĩnh vực chuyên môn và kỹ thuật, ví dụ Kỹ sư, Chuyên gia Nhân văn và Dịch vụ quốc tế, Lao động kỹ năng đặc định.
Đào tạo thực tập kỹ thuật: Chương trình chuyển giao kỹ năng nhằm hợp tác quốc tế. Từ năm 2010, thực tập sinh giữ tư cách này theo quan hệ lao động ngay từ năm đầu tiên tại Nhật Bản.
Giấy phép làm việc của du học sinh: Việc làm có thù lao được phép song song với mục đích lưu trú chính, chủ yếu là đối với du học sinh. Thời gian làm việc bị giới hạn để không ảnh hưởng đến mục đích đó, thông thường là 28 giờ mỗi tuần.
Cư trú theo tư cách: Người định cư vĩnh viễn, vợ chồng và con của công dân Nhật Bản, cùng người cư trú dài hạn. Nhóm này không bị hạn chế về công việc thực hiện hoặc việc chuyển đổi giữa các chủ sử dụng lao động.



Vì sao câu hỏi này đáng quan tâm với Việt Nam
Việt Nam phái cử một lượng lớn người lao động sang Nhật Bản, trong khi bản thân Việt Nam cũng đang già hóa dân số. Những điều này khiến câu hỏi về mối tương tác giữa biến động nhân khẩu học, phân bổ nhiệm vụ và nhu cầu lao động nước ngoài trở nên đáng quan tâm đối với độc giả Việt Nam.
Bằng chứng ở đây là của Nhật Bản và bài nghiên cứu không đưa ra khẳng định nào về Việt Nam. Điều có thể tham chiếu là chính câu hỏi và cơ chế phía sau: cơ cấu độ tuổi của lực lượng lao động trong nước của một quốc gia thay đổi những gì doanh nghiệp của quốc gia đó tìm kiếm ở nước ngoài như thế nào. Việt Nam đồng thời đối diện với câu hỏi này từ cả hai phía, vừa là quốc gia phái cử lao động sang Nhật Bản, vừa là quốc gia có lực lượng lao động trong nước đang già hóa.
Về diễn giả
Giáo sư Nguyễn Quốc Hùng công tác tại School of International Politics, Economics and Communication (SIPEC), Department of International Economics, thuộc Aoyama Gakuin University. Các lĩnh vực nghiên cứu của ông là chính sách kinh tế và lý thuyết kinh tế. Ông có bằng PhD in Economics từ University of British Columbia, bằng MA in Economics từ The University of Tokyo và bằng BA từ Faculty of Economics tại Kobe University.
Giáo sư Nguyễn Quốc Hùng từng trình bày tại HAPRI vào tháng 02/2025, với chủ đề "Population Graying, Technological Changes, and Their Economic Implications". Hội thảo đó đề cập đến một công trình có liên quan nhưng khác với bài nghiên cứu được trình bày lần này.
Quy tắc Chatham House
Hội thảo áp dụng Quy tắc Chatham House: người tham dự được tự do sử dụng thông tin thu nhận được, nhưng không được tiết lộ danh tính hay đơn vị công tác của bất kỳ người tham dự nào. Hội thảo không được ghi âm hay ghi hình. Ban tổ chức có thể chụp ảnh trong sự kiện.
Thông tin thực tiễn
Ngày: Thứ Hai, ngày 07/09/2026
Thời gian: 15:00 đến 17:00 (GMT+7)
Địa điểm: Phòng B1-203, Tòa nhà B, 279 Nguyễn Tri Phương, Phường 5, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
Trang sự kiện: Trang sự kiện của HAPRI
Sự kiện không yêu cầu đăng ký tham dự.

