top of page

Phân rã thiên lệch giới trong việc làm doanh nghiệp: Bằng chứng từ Việt Nam

  • 14 giờ trước
  • 3 phút đọc


Bài nghiên cứu mới của TS. Võ Tất Thắng, Giám đốc Viện Nghiên cứu Chính sách Nông nghiệp và Sức khỏe (HAPRI), đăng trên tạp chí Economic Analysis and Policy, Tập 70, tháng 6 năm 2021.


Thang T. Vo, Truong Thiet Ha, "Decomposition of gender bias in enterprise employment: Insights from Vietnam", Economic Analysis and Policy, Volume 70,

2021, tr. 182-194, ISSN: 0313-5926, DOI: 10.1016/j.eap.2021.02.007.


Tóm tắt

Mặc dù sự tham gia của lao động nữ vào thị trường lao động có vai trò quyết định đối với việc nâng cao vị thế của phụ nữ, các nghiên cứu tập trung vào thiên lệch giới trong việc làm doanh nghiệp còn hạn chế. Nghiên cứu này khảo sát các yếu tố quyết định sự tham gia của lao động nữ trong doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2011-2015. Phương pháp Bình phương Tối thiểu Tổng quát Khả thi (FGLS) được sử dụng để phân tích dữ liệu từ một cuộc khảo sát các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa của Việt Nam. Nghiên cứu cũng tiến hành phân rã Oaxaca-Blinder nhằm đánh giá mức độ phân biệt đối xử trong các doanh nghiệp thuộc ngành sử dụng nhiều lao động nam so với các doanh nghiệp thuộc ngành sử dụng nhiều lao động nữ. Kết quả cho thấy hoạt động xuất khẩu, đầu tư vốn con người, đặc điểm ngành, thời gian hoạt động, quy mô doanh nghiệp, giới tính và vốn xã hội của chủ doanh nghiệp đều có tác động tích cực đến sự tham gia của lao động nữ trong doanh nghiệp. Ngược lại, mức thù lao lao động và mức vốn trên mỗi lao động có tương quan âm. Phân biệt giới giải thích 26,11% số lượng lao động nữ và 87,78% chênh lệch về tỉ trọng lao động nữ.


Kết luận và hàm ý chính sách

Kết quả cho thấy phân biệt giới về cơ hội việc làm vẫn còn tồn tại trong các doanh nghiệp Việt Nam. Khi so sánh giữa các doanh nghiệp thuộc ngành sử dụng nhiều lao động nam và các doanh nghiệp thuộc ngành sử dụng nhiều lao động nữ, phân biệt đối xử giải thích 26,11% số lượng lao động nữ và 87,78% chênh lệch về tỉ trọng lao động nữ. Hoạt động xuất khẩu, đầu tư vốn con người, đặc điểm ngành, thời gian hoạt động, quy mô doanh nghiệp, giới tính và vốn xã hội của chủ doanh nghiệp đều khuyến khích cả về số lượng và tỉ trọng lao động nữ trong doanh nghiệp. Ngược lại, chế độ thù lao lao động và mức vốn trên mỗi lao động có tương quan âm.


Kết quả gợi ý rằng các chính sách công trong tương lai nên tập trung hỗ trợ hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp, mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao hiệu quả của các hiệp hội thương mại nhằm khuyến khích sự tham gia của lao động nữ vào thị trường lao động. Bên cạnh đó, các chính sách giúp doanh nghiệp thúc đẩy hoạt động kinh doanh cũng cần thiết vì lợi ích của lao động nữ. Đồng thời, kết quả ủng hộ các chính sách nhằm thay đổi các định kiến giới thông qua các chiến dịch nâng cao nhận thức giới và đào tạo người sử dụng lao động về các chiến lược phát triển nguồn nhân lực hiện đại. Các chính sách khuyến khích tinh thần khởi nghiệp của phụ nữ có thể làm tăng việc làm cho lao động nữ; do đó, việc cung cấp tài chính và đào tạo cho các doanh nghiệp siêu nhỏ do phụ nữ sở hữu và điều hành là rất quan trọng.

bottom of page