top of page

Nghị định

106/2010/ND-CP

Tình trạng được ghi nhận: Có hiệu lực một phần · Được sửa đổi, bổ sung bởi 65/2013/ND-CP

Nghị định số 106/2010/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 85/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08 tháng 9 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân

Chính phủ

Chính phủ

Cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Đứng đầu là Thủ tướng, Chính phủ tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật, quản lý nền kinh tế quốc dân và nền hành chính công, và chỉ đạo các bộ, ngành cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh.

Loại văn bản
Số hiệu văn bản
Tình trạng được ghi nhận
Ngày có hiệu lực
Cơ quan ban hành
Nguồn chính thức
Nghị định
106/2010/ND-CP
Có hiệu lực một phần
01/01/2011
Chính phủ
https://phapluat.gov.vn/legal-documents/25787

Nội dung chính

Tóm tắt

Nghị định 106/2010/NĐ-CP (ngày 28 tháng 10 năm 2010) sửa đổi, bổ sung Nghị định 85/2007/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Quản lý thuế, và Nghị định 100/2008/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thuế thu nhập cá nhân. Về quản lý thuế, Nghị định sửa đổi quy định về ủy nhiệm thu thuế, yêu cầu phải có hợp đồng giữa thủ trưởng cơ quan thuế và bên được ủy nhiệm thu, trừ một số loại thu nhập không thường xuyên do Bộ Tài chính quy định. Một quy định mới cho phép người nộp thuế tạm ngừng kinh doanh, sau khi gửi thông báo bằng văn bản đến cơ quan thuế quản lý trực tiếp, không phải nộp hồ sơ khai thuế trong thời gian tạm ngừng. Khi thông tin đăng ký thuế thay đổi, người nộp thuế phải thông báo cho cơ quan thuế quản lý trực tiếp trong vòng mười ngày làm việc; có thể thực hiện theo thủ tục một cửa liên thông theo pháp luật về đăng ký kinh doanh. Nếu việc thay đổi trụ sở làm người nộp thuế chuyển sang cơ quan thuế ở tỉnh khác, người nộp thuế phải nộp đủ số thuế đã khai hoặc đề nghị hoàn số thuế nộp thừa trước khi chuyển và không phải quyết toán thuế, trừ trường hợp việc chuyển trùng với kỳ quyết toán năm. Đối với thuế giá trị gia tăng, việc khai thuế nói chung theo tháng, trừ khai theo từng lần phát sinh đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt và bán hàng vãng lai tại tỉnh khác với tỉnh nơi đặt trụ sở (kinh doanh ngoại tỉnh), và trừ phương pháp khoán; người khai thường xuyên trong tháng có thể đăng ký chuyển sang khai thuế giá trị gia tăng theo tháng. Hồ sơ khai thuế giá trị gia tăng theo tháng gồm tờ khai thuế tháng cùng bảng kê hóa đơn bán ra và mua vào, còn hồ sơ theo từng lần phát sinh ngoại tỉnh chỉ gồm tờ khai thuế giá trị gia tăng. Thuế tiêu thụ đặc biệt được khai theo tháng đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế (trừ hàng xuất khẩu và nhập khẩu), với hồ sơ gồm tờ khai tháng, bảng kê hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và bảng kê thuế tiêu thụ đặc biệt được khấu trừ nếu có. Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu được khai theo từng lần phát sinh tại thời điểm làm thủ tục hải quan; hồ sơ hải quan được dùng làm hồ sơ khai thuế. Trường hợp hàng hóa không thuộc diện chịu thuế hoặc được miễn thuế nhưng sau đó thay đổi tình trạng hoặc mục đích sử dụng thì người nộp thuế phải khai trong vòng mười ngày kể từ ngày thay đổi. Thuế môn bài được khai một lần khi người nộp thuế mới bắt đầu hoạt động, chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng bắt đầu hoạt động, hoặc trong vòng ba mươi ngày kể từ ngày nhận giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế nếu chưa hoạt động, và khai hằng năm chỉ khi mức thuế môn bài phải nộp thay đổi. Nghị định cũng bổ sung quy định khai phí hải quan và sửa đổi việc khai thuế đối với nhà thầu nước ngoài không áp dụng chế độ kế toán Việt Nam (thuế nhà thầu), việc khấu trừ và nộp thay cho doanh nghiệp vận tải nước ngoài, và việc khai thuế đối với hoạt động khai thác, xuất khẩu dầu thô và sản xuất thủy điện.

bottom of page