Nghị định
65/2013/ND-CP
Nghị định số 65/2013/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân
Loại văn bản | Số hiệu văn bản | Tình trạng được ghi nhận | Ngày có hiệu lực | Cơ quan ban hành | Nguồn chính thức |
|---|---|---|---|---|---|
Nghị định | 65/2013/ND-CP | Có hiệu lực một phần | 01/07/2013 | Chính phủ | https://phapluat.gov.vn/legal-documents/30638 |
Nội dung chính
Tóm tắt
Nghị định 65/2013/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 27 tháng 6 năm 2013 quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2012. Đây là tài liệu tham chiếu cốt lõi cho việc tính thuế thu nhập cá nhân đối với tiền công, tiền lương, xác định người nộp thuế, tình trạng cư trú và phạm vi thu nhập chịu thuế. Người nộp thuế gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế. Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi chi trả; đối với cá nhân không cư trú, chỉ tính thu nhập phát sinh tại Việt Nam. Một cá nhân được coi là cư trú nếu có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt, hoặc nếu có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam thông qua đăng ký thường trú hoặc hợp đồng thuê nhà từ 183 ngày trở lên trong năm tính thuế; người có nơi ở thường xuyên nhưng có mặt dưới 183 ngày mà không chứng minh được là đối tượng cư trú thuế của nước khác thì được coi là cá nhân cư trú tại Việt Nam. Nghị định liệt kê các loại thu nhập chịu thuế, bao gồm thu nhập từ kinh doanh và thu nhập từ tiền công, tiền lương. Thu nhập từ tiền công, tiền lương gồm tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương nhận được bằng tiền hoặc hiện vật; các khoản phụ cấp, trợ cấp trừ những khoản được miễn được liệt kê như phụ cấp ưu đãi người có công và cựu chiến binh, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút và khu vực, cùng các khoản trợ cấp thôi việc, mất việc làm, trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp một lần khi nghỉ hưu theo Bộ luật Lao động và Luật Bảo hiểm xã hội; các khoản thù lao như tiền hoa hồng môi giới và tiền bản quyền; các khoản chi trả cho việc tham gia hội đồng quản trị và các hiệp hội; và các khoản lợi ích ngoài tiền lương do người sử dụng lao động cung cấp như nhà ở, điện, nước, phí bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm không bắt buộc tích lũy, và khoản đóng góp quỹ hưu trí tự nguyện. Đối với khoản phí bảo hiểm tích lũy và đóng góp hưu trí tự nguyện mà người sử dụng lao động mua hoặc đóng cho người lao động, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc đơn vị quản lý quỹ hưu trí phải khấu trừ thuế ở mức 10 phần trăm trên phần tích lũy do người sử dụng lao động đóng trước khi chi trả, áp dụng từ ngày 1 tháng 7 năm 2013. Tiền thưởng nhìn chung phải chịu thuế, trừ một số khoản như danh hiệu Nhà nước, giải thưởng quốc gia và giải thưởng quốc tế được công nhận, giải thưởng về cải tiến kỹ thuật và sáng chế, và tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật. Nghị định cũng liệt kê các khoản không tính vào thu nhập chịu thuế từ tiền lương, như khoản hỗ trợ của người sử dụng lao động cho việc khám chữa bệnh hiểm nghèo của người lao động và thân nhân, khoản sử dụng phương tiện đi lại công vụ và nhà ở công vụ, tiền ăn giữa ca trong định mức do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định, một số khoản vé máy bay khứ hồi cho người lao động nước ngoài và người lao động làm việc ở nước ngoài, và học phí cho con của người lao động ở các cấp học nhất định. Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm lãi tiền vay và cổ tức, cũng phải chịu thuế. Những định nghĩa về tình trạng cư trú, thu nhập chịu thuế từ tiền lương, các khoản phụ cấp được miễn và mức khấu trừ 10 phần trăm đối với khoản bảo hiểm tích lũy do người sử dụng lao động đóng có tác động trực tiếp đến việc tính cơ sở thuế thu nhập cá nhân.
Văn bản liên quan
Về bản tóm tắt này
HAPRI LawWatch trình bày bản tóm tắt, nội dung chính và các liên kết văn bản liên quan. Nội dung này không phải văn bản chính thức hoặc tư vấn pháp lý. Đối chiếu với nguồn chính thức trước khi áp dụng.
Tình trạng được ghi nhận và dữ liệu ngày hoặc liên kết văn bản có điểm chưa thống nhất. Cần đối chiếu nguồn chính thức; liên kết bãi bỏ có thể chỉ liên quan đến một phần văn bản.
