top of page

Luật

46/2014/QH13

Tình trạng được ghi nhận: Có hiệu lực một phần · Được sửa đổi, bổ sung bởi Luat so 51/2024/QH15

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13

Quốc hội

Quốc hội

Cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân và là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp ở Việt Nam. Quốc hội ban hành và sửa đổi Hiến pháp, luật, quyết định các chính sách quốc gia quan trọng và ngân sách nhà nước, và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; đại biểu Quốc hội do cử tri cả nước bầu ra.

Loại văn bản
Số hiệu văn bản
Tình trạng được ghi nhận
Ngày có hiệu lực
Cơ quan ban hành
Nguồn chính thức
Luật
46/2014/QH13
Có hiệu lực một phần
01/01/2015
Quốc hội
https://phapluat.gov.vn/legal-documents/36793

Nội dung chính

Tóm tắt

Luật 46/2014/QH13, do Quốc hội thông qua, sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế 25/2008/QH12. Luật này cơ cấu lại đối tượng phải tham gia, cách xác định căn cứ đóng và cách phân mức hưởng, đồng thời là tài liệu tham chiếu nền tảng cho việc tính khoản đóng bảo hiểm y tế trên thu nhập thực nhận. Luật khẳng định bảo hiểm y tế là chế độ bắt buộc, phi lợi nhuận do Nhà nước tổ chức. Luật đưa ra hình thức tham gia theo hộ gia đình, định nghĩa hộ gia đình tham gia là tất cả những người có tên trong sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú, và bổ sung khái niệm gói dịch vụ y tế cơ bản do quỹ bảo hiểm y tế chi trả. Về căn cứ đóng, Luật quy định mức đóng bảo hiểm y tế được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo Luật Bảo hiểm xã hội (gọi là tiền lương tháng), hoặc của lương hưu, trợ cấp, hay mức lương cơ sở, tùy theo từng nhóm. Mức hưởng phụ thuộc vào mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng, phạm vi quyền lợi và thời gian tham gia bảo hiểm y tế. Điều 12 được sửa đổi sắp xếp lại đối tượng thành các nhóm được xác định rõ theo người đóng: (1) nhóm do người lao động và người sử dụng lao động cùng đóng, gồm người lao động làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn hoặc hợp đồng xác định thời hạn từ ba tháng trở lên, người quản lý doanh nghiệp hưởng lương, cán bộ, công chức và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; (2) nhóm do cơ quan bảo hiểm xã hội đóng, gồm người hưởng lương hưu, người hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng, người hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc bệnh dài ngày, người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng, cán bộ xã đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, và người hưởng trợ cấp thất nghiệp; (3) nhóm do ngân sách nhà nước đóng, gồm quân nhân, công an đang tại ngũ, cơ yếu, cán bộ xã đã nghỉ việc hưởng trợ cấp từ ngân sách, người có công với cách mạng và cựu chiến binh, đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân đương nhiệm, trẻ em dưới sáu tuổi, người hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng, người nghèo, người dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn, người dân sinh sống ở vùng đảo, và thân nhân của người có công; (4) nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng, gồm hộ cận nghèo, học sinh và sinh viên; và (5) nhóm tham gia theo hộ gia đình gồm tất cả những người chưa thuộc các nhóm từ 1 đến 4. Luật cũng bổ sung các Điều 7a, 7b và 7c giao trách nhiệm cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng Bộ Quốc phòng và Bộ Công an trong việc xác định, quản lý và lập danh sách các nhóm đối tượng được bảo hiểm thuộc phạm vi của mình. Đối với các phép tính liên quan đến tiền lương, các thông số chính là căn cứ đóng theo tỷ lệ phần trăm tiền lương gắn với tiền lương đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và các mức hưởng theo nhóm, nhạy với thời gian tham gia.

Văn bản liên quan

4 văn bản liên quan

Về bản tóm tắt này

HAPRI LawWatch trình bày bản tóm tắt, nội dung chính và các liên kết văn bản liên quan. Nội dung này không phải văn bản chính thức hoặc tư vấn pháp lý. Đối chiếu với nguồn chính thức trước khi áp dụng.

Nguồn chính thức (mở trong thẻ mới)

bottom of page