Law
77/2015/QH13
Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13
Quốc hội
Cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân và là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp ở Việt Nam. Quốc hội ban hành và sửa đổi Hiến pháp, luật, quyết định các chính sách quốc gia quan trọng và ngân sách nhà nước, và thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; đại biểu Quốc hội do cử tri cả nước bầu ra.
Loại văn bản | Số hiệu văn bản | Tình trạng được ghi nhận | Ngày có hiệu lực | Cơ quan ban hành | Nguồn chính thức |
|---|---|---|---|---|---|
Law | 77/2015/QH13 | No longer in effect | 01/01/2016 | Quốc hội | https://phapluat.gov.vn/legal-documents/70819 |
Nội dung chính
Được ban hành là Luật số 77/2015/QH13 do Quốc hội khóa XIII thông qua, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2016, thay thế Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11/2003/QH11.
Xác định các đơn vị hành chính ở cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, cùng với hải đảo và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt, và quy định việc phân loại theo tiêu chuẩn luật định.
Quy định chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân (cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương) và Ủy ban nhân dân (cơ quan chấp hành), và ấn định cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn ở từng cấp.
Phân định thẩm quyền giữa cấp trung ương với chính quyền địa phương thông qua phân quyền, phân cấp và ủy quyền.
Quy định về kỳ họp Hội đồng nhân dân, việc thông qua nghị quyết, hoạt động giám sát, lấy phiếu và bỏ phiếu tín nhiệm và quyền của đại biểu, đồng thời quy định trình tự, thủ tục thành lập, giải thể và điều chỉnh đơn vị hành chính có lấy ý kiến Nhân dân.
Tóm tắt
Văn bản và căn cứ pháp lý
Đây là Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13, do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa XIII) ban hành trên cơ sở Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luật được thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2015 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Kể từ ngày có hiệu lực, Luật này thay thế Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11/2003/QH11.
Luật quy định về tổ chức chính quyền đ ịa phương ở các đơn vị hành chính, xác định cơ cấu, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ công tác của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, cũng như trình tự, thủ tục thành lập, tổ chức lại và giải thể đơn vị hành chính.
Đơn vị hành chính và phân loại
Luật xác định các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương ở cấp tỉnh; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương ở cấp huyện; xã, phường, thị trấn ở cấp xã; cùng với hải đảo và đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập.
Các đơn vị hành chính được phân loại theo tiêu chuẩn luật định (quy mô dân số, diện tích tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và các yếu tố đặc thù của từng loại đơn vị) làm cơ sở để tổ chức bộ máy và áp dụng chính sách.
Cơ cấu chính quyền địa phương
Chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm của từng loại đơn vị hành chính. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do Nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân; Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu, là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Luật quy định theo từng cấp (tỉnh, huyện và xã, cùng các biến thể đô thị và hải đảo) về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, cũng như các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân. Luật cũng quy định chế độ riêng đối với đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt mà việc tổ chức do Quốc hội quyết định trong từng trường hợp.
Phân định thẩm quyền
Luật phân định thẩm quyền giữa các cơ quan trung ương với chính quyền địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương thông qua các cơ chế phân quyền, phân cấp và ủy quyền; mỗi cơ chế chỉ được thực hiện khi Luật có quy định và phải bảo đảm các điều kiện về nguồn lực và trách nhiệm.
Hoạt động của Hội đồng nhân dân
Hội đồng nhân dân hoạt động chủ yếu thông qua các kỳ họp. Luật quy định việc triệu tập, chương trình, khách mời và điều hành kỳ họp; việc bầu, từ chức, miễn nhiệm các chức danh; trình tự thông qua và ban hành nghị quyết; và hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, bao gồm việc lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu.
Luật quy định trách nhiệm của đại biểu Hội đồng nhân dân, trách nhiệm tham dự kỳ họp và tiếp xúc cử tri, các quyền chất vấn, kiến nghị và quyền miễn trừ, cùng các điều kiện bảo đảm hoạt động và quy định về thôi làm nhiệm vụ hoặc bãi nhiệm đại biểu.
Thành lập, giải thể và điều chỉnh đơn vị hành chính
Luật quy định nguyên tắc, thẩm quyền và trình tự, thủ tục thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính, và việc tổ chức chính quyền địa phương khi có sự thay đổi đó. Phải xây dựng đề án về sự thay đổi và lấy ý kiến Nhân dân ở địa phương chịu ảnh hưởng trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định.
Hiệu lực và chuyển tiếp
Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 và thay thế Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân số 11/2003/QH11, tạo khuôn khổ để các chính quyền địa phương hiện hành tiếp tục hoạt động và được tổ chức lại theo các quy định mới.
Văn bản liên quan
Về bản tóm tắt này
HAPRI LawWatch trình bày bản tóm tắt, nội dung chính và các liên kết văn bản liên quan. Nội dung này không phải văn bản chính thức hoặc tư vấn pháp lý. Đối chiếu với nguồn chính thức trước khi áp dụng.
