Đê bao, lúa gạo và lũ: Hạ tầng kiểm soát lũ định hình Đồng bằng sông Cửu Long như thế nào


Một luận án tiến sĩ tại Đại học Wageningen của Dung Duc Tran (Nghiên cứu viên Cộng tác cấp cao, HAPRI) nhận thấy các hệ thống canh tác trong vùng đê bao thấp mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường cao hơn trong dài hạn trên vùng ngập lũ Đồng bằng sông Cửu Long. Luận án gợi ý nhu cầu phát triển các chiến lược quản lý đất và nước cùng các hệ thống canh tác dựa trên lũ, thay vì tiếp tục mở rộng hạ tầng đê bao cao, đồng thời ghi nhận những lợi thế mà đê bao cao mang lại.
Bối cảnh
Dưới tác động của chính sách an ninh lương thực quốc gia, sản xuất lúa ở phần thượng nguồn Đồng bằng sông Cửu Long đã được thâm canh, làm thay đổi vùng ngập lũ tại đây từ một vùng ngập lũ theo mùa thành khu vực sản xuất lúa thâm canh cao. Để có thể thực hiện điều này, hệ thống hạ tầng kiểm soát lũ quy mô lớn đã được xây dựng, đặc biệt là đê bao thấp và đê bao cao, nhằm kiểm soát lượng nước vào đồng ruộng. Kết quả là, đồng bằng này đã trở thành nguồn đóng góp chủ yếu cho an ninh lương thực của Việt Nam, và sản lượng cao của đồng bằng đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Luận án cũng chỉ ra cái giá của sự chuyển đổi này: nó đã làm giảm khả năng trữ lũ của đồng bằng, suy giảm chất lượng đất và nước, đồng thời làm suy yếu các dịch vụ hệ sinh thái của đồng bằng. Nghiên cứu có hai mục tiêu. Mục tiêu thứ nhất là xác định tác động của hạ tầng kiểm soát lũ được xây dựng rộng khắp đến động thái lũ của đồng bằng. Mục tiêu thứ hai là tìm hiểu các phương án thích ứng nhằm tối đa hóa tính bền vững về sinh kế và tính bền vững về sinh thái trên đồng bằng.

Phương pháp
Luận án đã phát triển một mô hình thủy động lực 1D-quasi2D sẵn có cho toàn hệ thống đồng bằng để mô phỏng lưu lượng lũ và mực nước sông theo bốn kịch bản xây dựng đê bao. Từ góc nhìn sinh kế bền vững, luận án tiếp đó khảo sát các hệ thống canh tác thay thế bằng phân tích đa tiêu chí và phân tích chi phí - lợi ích ở quy mô địa phương. Phần này dựa trên nhiều cuộc phỏng vấn với các bên liên quan hoạt động trong các vùng có loại đê bao khác nhau và ở những vị trí khác nhau trên vùng ngập lũ. Cuối cùng, luận án trình bày chi phí và lợi ích ở quy mô toàn đồng bằng, đồng thời xem xét các kịch bản kiểm soát lũ khác nhau trong tương lai.
Kết quả chính
Từ kết quả mô hình hóa thủy động lực, luận án kết luận rằng đê bao cao đã làm giảm lượng nước lũ đổ về Tứ giác Long Xuyên (LXQ).
Trong phân tích chi phí - lợi ích ở cấp nông hộ, lợi nhuận của nông dân canh tác lúa ba vụ giảm dần theo thời gian.
Trong xếp hạng đa tiêu chí của nông dân và chuyên gia, các hệ thống được ưa chuộng có sự khác biệt, nhưng có sự ưu tiên rõ rệt đối với các hệ thống canh tác dựa trên lũ (đê bao thấp).
Nhìn chung, luận án nhận thấy các hệ thống canh tác trong vùng đê bao thấp mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường cao hơn trong dài hạn.


Hàm ý chính sách
Nghiên cứu gợi ý nhu cầu phát triển các chiến lược quản lý đất và nước cùng các hệ thống canh tác dựa trên lũ, thay vì tiếp tục mở rộng hạ tầng đê bao cao và các hệ thống canh tác đi kèm. Nghiên cứu bổ sung rằng một số lợi thế nhất định của hệ thống đê bao cao phải được ghi nhận, chẳng hạn khả năng bảo vệ các khu vực đã được xây dựng và việc nông dân dễ dàng tiếp cận thị trường lúa gạo ổn định.
Từ khóa:
Đồng bằng sông Cửu Long
Xây dựng đê bao
Động thái lũ
Canh tác lúa
Thích ứng
Canh tác dựa trên lũ
Liên kết:
Trích dẫn:
Tran, D. D. (2018). Agricultural land-use dynamics in the floodplains of the Vietnamese Mekong Delta: hydrodynamic implications on flood regimes and adaptation options. PhD thesis, Wageningen University.



