top of page

Suy giảm nghiêm trọng phạm vi và tính mùa của vệt nước sông Mê Kông sau năm 2000

2 giờ trước
3 phút đọc
Vệt nước sông Mê Kông thu hẹp nghiêm trọng sau năm 2000. Dữ liệu viễn thám và quan trắc cho thấy phạm vi vệt nước giảm 63% trong mùa khô và 83% trong mùa mưa giữa hai giai đoạn 1988–1999 và 2000–2022, khi trầm tích về vùng ven biển suy giảm và rừng ngập mặn bị xói lở. Yikang Feng, Dung Duc Tran (Nghiên cứu viên Cộng tác cấp cao, HAPRI) và cộng sự. Ảnh minh họa: hai người dân trồng cây rừng ngập mặn non trên bãi bùn xám ở một bờ biển đang bị xói lở tại Đồng bằng sông Cửu Long. Rễ cây ngập mặn lộ ra dọc mép bờ, và phía sau một chiếc thuyền gỗ nhỏ, nước sông nâu phù sa gặp nước biển xanh hơn.

Suy giảm nghiêm trọng phạm vi và tính mùa của vệt nước sông Mê Kông sau năm 2000

Một nghiên cứu do Yikang Feng, Edward Park, Jingyu Wang, Lian Feng và Dung Duc Tran (Nghiên cứu viên Cộng tác cấp cao, HAPRI) đồng tác giả cho thấy phạm vi và tính theo mùa của vệt nước sông Mê Kông đã suy giảm nghiêm trọng sau năm 2000. Vệt nước này quan trọng vì nó duy trì địa mạo và sự đa dạng sinh học phong phú dọc vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.


Bối cảnh

Vệt nước sông Mê Kông là dòng nước sông giàu trầm tích đổ ra biển ngoài khơi Đồng bằng sông Cửu Long. Vệt nước này đang chịu những mối đe dọa ngày càng gia tăng từ các đập, khai thác lòng sông và nước biển dâng. Các tác giả lưu ý rằng hiểu biết về mức độ mà các tác nhân gây áp lực ngày càng mạnh này đã làm thay đổi động thái không gian - thời gian dài hạn của vệt nước vẫn còn hạn chế.


Các tác giả quy sự suy giảm cho điều gì
Các tác giả quy sự suy giảm cho điều gì

Phương pháp

Nghiên cứu xem xét vệt nước sông Mê Kông giai đoạn 1988–2022 dựa trên viễn thám, dữ liệu thủy văn đo đạc tại hiện trường và biến đổi wavelet liên tục. Nghiên cứu phân tích phạm vi vệt nước theo mùa trung bình dài hạn, xu thế giữa các năm của lưu lượng trầm tích lơ lửng theo mùa và dòng chảy dọc bờ, cùng những thay đổi trong mức độ tiếp xúc dài hạn của rừng ngập mặn ven biển với trầm tích lơ lửng. Dữ liệu nồng độ trầm tích lơ lửng đo tại hiện trường từ năm trạm quan trắc chính thuộc các đoạn thượng lưu, trung lưu và hạ lưu của đồng bằng trong giai đoạn 2010–2021 được sử dụng để hiệu chỉnh 101 quan trắc phản xạ bề mặt Landsat nhằm ước tính nồng độ trầm tích lơ lửng.


Kết quả chính

  • So sánh giai đoạn 1988–1999 với giai đoạn 2000–2022, nghiên cứu ghi nhận phạm vi vệt nước suy giảm 63% trong mùa khô (tháng 12 đến tháng 5) và 83% trong mùa mưa (tháng 6 đến tháng 11).

  • Dọc bờ biển Đồng bằng sông Cửu Long, mức độ tiếp xúc hằng năm với trầm tích lơ lửng đã giảm 37–54% giữa hai giai đoạn 1988–1999 và 2000–2022, tương ứng với mức mất rừng ngập mặn hằng năm tối đa 15% do xói lở bờ biển.

  • Mặc dù vệt nước suy giảm, nồng độ trầm tích lơ lửng bề mặt tại dòng chảy dọc bờ bắt đầu tăng từ năm 2008, đánh dấu sự đảo chiều xu thế sau hai thập niên đi xuống.

  • Các tác giả quy sự suy giảm của vệt nước và của mức độ tiếp xúc ven biển chủ yếu cho sự sụt giảm thông lượng trầm tích từ lục địa, vốn chịu ảnh hưởng lớn từ việc xây dựng và vận hành các đập xuyên quốc gia.


Cách thực hiện nghiên cứu
Cách thực hiện nghiên cứu

Từ khóa:

  • Đồng bằng sông Cửu Long

  • Vệt nước sông

  • Trầm tích lơ lửng

  • Viễn thám

  • Rừng ngập mặn ven biển

  • Đập xuyên quốc gia


Liên kết:


Trích dẫn:

Feng, Y., Park, E., Wang, J., Feng, L., & Tran, D. D. (2024). Severe decline in extent and seasonality of the Mekong plume after 2000. Journal of Hydrology, 643, 132026.

bottom of page