top of page

Nghị định

108/2021/ND-CP

Tình trạng được ghi nhận: Đang có hiệu lực

Nghị định số 108/2021/NĐ-CP Điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng

Chính phủ

Chính phủ

Cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Đứng đầu là Thủ tướng, Chính phủ tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật, quản lý nền kinh tế quốc dân và nền hành chính công, và chỉ đạo các bộ, ngành cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh.

Loại văn bản
Số hiệu văn bản
Tình trạng được ghi nhận
Ngày có hiệu lực
Cơ quan ban hành
Nguồn chính thức
Nghị định
108/2021/ND-CP
Đang có hiệu lực
20/01/2022
Chính phủ
https://phapluat.gov.vn/legal-documents/153700

Nội dung chính

Tóm tắt

Nghị định 108/2021/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 7 tháng 12 năm 2021, điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng. Nghị định căn cứ vào Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Nghị quyết 34/2021/QH15 của Quốc hội về dự toán ngân sách nhà nước năm 2022. Để phục vụ việc tính lương hưu, các quy định trọng tâm là tỷ lệ tăng và các mức sàn có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2022. Điều 1 liệt kê các đối tượng được áp dụng: những người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hoặc trợ cấp hằng tháng trước ngày 1 tháng 1 năm 2022. Bao gồm cán bộ, công chức, công nhân, viên chức và người lao động (kể cả người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện và người chuyển từ quỹ bảo hiểm xã hội nông dân Nghệ An theo Quyết định 41/2009/QĐ-TTg), quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu đang hưởng lương hưu hằng tháng. Cũng bao gồm cán bộ cấp xã theo các Nghị định 92/2009/NĐ-CP, 34/2019/NĐ-CP, 121/2003/NĐ-CP và 09/1998/NĐ-CP; người đang hưởng trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định 206-CP; và một số nhóm cựu chiến binh và công an đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo các quyết định khác nhau của Thủ tướng Chính phủ. Một nhóm khác gồm những người nghỉ hưu trước ngày 1 tháng 1 năm 1995 mà sau khi điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm vẫn có mức lương hưu hoặc trợ cấp dưới 2.500.000 đồng mỗi tháng. Điều 2 quy định thời điểm và mức điều chỉnh, là các yếu tố tính toán then chốt. Từ ngày 1 tháng 1 năm 2022, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hằng tháng của những người tại Khoản 1 được tăng 7,4 phần trăm so với mức hưởng của tháng 12 năm 2021. Đối với những người nghỉ hưu trước ngày 1 tháng 1 năm 1995 mà sau khi tăng vẫn còn thấp, áp dụng thêm các khoản bù bằng số tiền cố định: người có mức hưởng từ 2.300.000 đồng mỗi tháng trở xuống được tăng thêm 200.000 đồng mỗi tháng, còn người có mức hưởng từ 2.300.000 đồng đến dưới 2.500.000 đồng mỗi tháng thì được nâng lên thành 2.500.000 đồng mỗi tháng. Mức đã điều chỉnh trở thành căn cứ để tính các lần điều chỉnh sau này. Điều 3 quy định nguồn kinh phí. Ngân sách nhà nước chi trả cho những người hưởng bảo hiểm xã hội trước ngày 1 tháng 10 năm 1995 và các chế độ trợ cấp và lương hưu cựu chiến binh được liệt kê, trong khi quỹ bảo hiểm xã hội chi trả cho những người có quyền lợi từ ngày 1 tháng 10 năm 1995 trở đi, bao gồm cả cán bộ xã theo các nghị định nêu trên. Tóm lại, nghị định áp dụng mức tăng lương hưu đồng loạt 7,4 phần trăm từ ngày 1 tháng 1 năm 2022 cộng với các khoản bù tối thiểu có mục tiêu cho các mức lương hưu thấp nhất trước năm 1995, và lấy mức mới làm căn cứ cho các lần điều chỉnh tiếp theo.

Văn bản liên quan

Hiển thị 15 trong số 16 văn bản liên quan
Căn cứ ban hành
Sửa đổi, bổ sung
Quy định chi tiết, hướng dẫn

Về bản tóm tắt này

HAPRI LawWatch trình bày bản tóm tắt, nội dung chính và các liên kết văn bản liên quan. Nội dung này không phải văn bản chính thức hoặc tư vấn pháp lý. Đối chiếu với nguồn chính thức trước khi áp dụng.

Nguồn chính thức (mở trong thẻ mới)

bottom of page